Ung thư vú hiện là ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ Việt Nam và cũng là một trong những nguyên nhân tử vong do ung thư hàng đầu. Tuy nhiên, đây không phải là căn bệnh chỉ có một “cửa thoát” là phát hiện thật nhiều khối u. Muốn giảm số người mắc và số người tử vong, phải kiểm soát toàn bộ hành trình của bệnh:
PHÒNG NGỪA TÍCH CỰC → TẦM SOÁT ĐÚNG → CHẨN ĐOÁN SỚM VÀ CHÍNH XÁC → ĐIỀU TRỊ ĐẦY ĐỦ, PHÙ HỢP → GIẢM NGUY CƠ TÁI PHÁT VÀ PHÁT HIỆN TÁI PHÁT ĐÚNG CÁCH.
Chỉ làm một khâu, hoặc làm sai một khâu, đều không đủ. Tầm soát tràn lan nhưng điều trị chậm, chẩn đoán nhiều nhưng điều trị không đúng sinh học bướu, hay phẫu thuật thật rộng nhưng bỏ sót điều trị hỗ trợ—tất cả đều không đạt mục tiêu cuối cùng là giảm tử vong.
Theo GLOBOCAN:
Chỉ số tại Việt Nam Năm 2022 Năm 2024
Ca ung thư vú mới ước tính 24.563 25.711
Tử vong do ung thư vú ước tính 10.008 10.609
Tỷ lệ mắc chuẩn hóa theo tuổi 38,0/100.000 38,5/100.000
Tỷ lệ tử vong chuẩn hóa theo tuổi 14,7/100.000 15,8/100.000
Thứ hạng về số ca mắc mới trong tất cả UT 1 1
Năm 2024, ung thư vú chiếm khoảng 28,1% số ung thư mới ở nữ giới và 14,5% số ung thư mới của cả hai giới tại Việt Nam. Đây cũng là nguyên nhân tử vong do ung thư đứng đầu ở phụ nữ Việt Nam, với ước tính 10.609 trường hợp trong năm. GLOBOCAN 2024 – Việt Nam
So với năm 2022, số ca mắc mới ước tính tăng khoảng 4,7% và số tử vong tăng khoảng 6%. Nhưng cần hiểu đúng: GLOBOCAN là ước tính dịch tễ học, không phải phép đếm đầy đủ từng bệnh nhân.
Hai phiên bản có thể khác nhau về nguồn dữ liệu, mô hình ước tính và chất lượng hệ thống ghi nhận ung thư. Vì vậy, không nên chỉ dựa vào hai mốc để khẳng định chắc chắn tốc độ gia tăng của bệnh.
Dù vậy, thông điệp không thay đổi: ung thư vú đang tạo ra gánh nặng rất lớn và tử vong còn cao so với một bệnh ung thư có khả năng chữa khỏi tốt nếu được phát hiện và điều trị đúng ở giai đoạn sớm.

2. MUỐN GIẢM TỬ VONG PHẢI PHÂN BIỆT BA MỤC TIÊU KHÁC NHAU
Nhiều thông điệp truyền thông đang trộn lẫn phòng ngừa, tầm soát và chẩn đoán sớm. Đây không chỉ là sai thuật ngữ mà còn dẫn đến hành động sai.
– PHÒNG NGỪA NHẰM GIẢM NGUY CƠ MẮC BỆNH
Phòng ngừa tác động trước khi ung thư hình thành. Đây mới là biện pháp có khả năng làm giảm số ca mắc mới thực sự.
– TẦM SOÁT NHẰM PHÁT HIỆN BỆNH KHI CHƯA CÓ TRIỆU CHỨNG
Tầm soát không ngăn ung thư xuất hiện. Thậm chí khi triển khai tầm soát, số ca được chẩn đoán ban đầu có thể tăng vì phát hiện thêm những ung thư chưa biểu hiện lâm sàng.
Mục tiêu chính của tầm soát là:
• Giảm số ung thư được phát hiện ở giai đoạn muộn.
• Giảm tử vong do ung thư vú.
• Đạt lợi ích này với mức chẩn đoán quá mức, sinh thiết không cần thiết và lo âu thấp nhất có thể.
– CHẨN ĐOÁN SỚM DÀNH CHO NGƯỜI ĐÃ CÓ DẤU HIỆU BẤT THƯỜNG
Người sờ thấy khối ở vú, tiết dịch núm vú hoặc có thay đổi da vú không còn thuộc nhóm “tầm soát”. Họ cần được khám và chẩn đoán, không nên tiếp tục mua thêm các gói “tầm soát”.
WHO xem phát hiện sớm ung thư vú gồm hai thành phần riêng biệt: nhận biết và chẩn đoán sớm người có triệu chứng; và tầm soát bằng nhũ ảnh ở người chưa có triệu chứng. WHO – Breast cancer
PHẦN I. PHÒNG NGỪA TÍCH CỰC: GIẢM NGUY CƠ MẮC UNG THƯ VÚ
3. KHÔNG PHẢI MỌI YẾU TỐ NGUY CƠ ĐỀU THAY ĐỔI ĐƯỢC
Những yếu tố không thể thay đổi gồm:
• Nữ giới và tuổi ngày càng cao.
• Tiền sử gia đình có ung thư vú hoặc buồng trứng.
• Đột biến di truyền như BRCA1, BRCA2, PALB2, TP53…
• Từng xạ trị vùng ngực khi còn trẻ.
• Mô vú dày.
• Một số tổn thương vú nguy cơ cao như tăng sản không điển hình hoặc LCIS.
• Tiền sử cá nhân đã mắc ung thư vú.
Không thay đổi được không có nghĩa là bất lực. Việc nhận diện những yếu tố này giúp cá thể hóa chương trình tầm soát, tư vấn di truyền và lựa chọn biện pháp giảm nguy cơ.
4. NHỮNG VIỆC CÓ THỂ THỰC HIỆN NGAY
4.1. HẠN CHẾ RƯỢU BIA
Rượu làm tăng nguy cơ ung thư vú; nguy cơ tăng theo lượng sử dụng. Nếu không uống thì không nên bắt đầu với lý do “tốt cho tim”. Nếu đang uống, càng ít càng tốt.
4.2. DUY TRÌ CÂN NẶNG HỢP LÝ
Thừa cân và béo phì, đặc biệt sau mãn kinh, làm tăng nguy cơ ung thư vú và liên quan đến kết quả điều trị kém hơn. Giảm cân phải dựa trên chế độ ăn và vận động bền vững, không phải sản phẩm “thải độc”.
4.3. HOẠT ĐỘNG THỂ LỰC ĐỀU ĐẶN
Mục tiêu thực tế:
• Ít nhất 150–300 phút vận động mức vừa mỗi tuần; hoặc
• 75–150 phút vận động cường độ cao;
• Kết hợp tập sức mạnh ít nhất hai buổi mỗi tuần;
• Giảm thời gian ngồi liên tục.
4.4. KHÔNG HÚT THUỐC VÀ TRÁNH KHÓI THUỐC
Mối liên quan với ung thư vú không mạnh như với ung thư phổi, nhưng bỏ thuốc giúp giảm nhiều loại ung thư, bệnh tim mạch và biến chứng điều trị.
4.5. CHO CON BÚ NẾU ĐIỀU KIỆN CHO PHÉP
Cho con bú liên quan với giảm nguy cơ ung thư vú, đồng thời có lợi cho cả mẹ và trẻ. Đây là yếu tố bảo vệ, không phải nghĩa vụ để quy trách nhiệm cho người phụ nữ nếu họ không thể cho con bú.
4.6. SỬ DỤNG HORMONE MÃN KINH CÓ CHỈ ĐỊNH
Liệu pháp hormone mãn kinh không phải thuốc “trẻ hóa”. Cần đánh giá triệu chứng, nguy cơ tim mạch, huyết khối, ung thư vú và lựa chọn loại thuốc, liều, thời gian phù hợp. Không tự dùng kéo dài.
4.7. KHÔNG TRÔNG CHỜ THỰC PHẨM CHỨC NĂNG
Chưa có vitamin, chất chống oxy hóa, “nội tiết thực vật”, nấm, tinh chất hay thực phẩm chức năng nào được chứng minh có thể phòng ngừa ung thư vú cho dân số chung. Vitamin D bổ sung cũng chưa được chứng minh làm giảm nguy cơ ung thư nói chung. NCI – Breast Cancer Prevention
5. PHÒNG NGỪA Ở NGƯỜI NGUY CƠ CAO
Người có tiền sử gia đình đáng chú ý, ung thư vú khi còn trẻ trong gia đình, ung thư vú hai bên, ung thư vú nam, ung thư buồng trứng, tụy hoặc tuyến tiền liệt nguy cơ cao cần được đánh giá nguy cơ di truyền.
Nếu phù hợp, có thể xem xét:
• Tư vấn và xét nghiệm gene sau tư vấn.
• Tầm soát sớm hơn bằng nhũ ảnh kết hợp MRI.
• Thuốc giảm nguy cơ như tamoxifen, raloxifene hoặc thuốc ức chế aromatase ở những nhóm được lựa chọn.
• Phẫu thuật giảm nguy cơ ở người mang đột biến nguy cơ rất cao, sau tư vấn đầy đủ.
Không nên xét nghiệm gene đại trà rồi tự diễn giải một biến thể chưa rõ ý nghĩa thành “gene ung thư”. Gene không phải quẻ bói điện tử.
PHẦN II. TẦM SOÁT ĐÚNG: KHÔNG BỎ SÓT NHƯNG CŨNG KHÔNG LÀM TRÀN LAN
6. PHƯƠNG TIỆN TẦM SOÁT CHUẨN LÀ NHŨ ẢNH
Với phụ nữ nguy cơ trung bình, NHŨ ẢNH LÀ PHƯƠNG TIỆN TẦM SOÁT CÓ BẰNG CHỨNG GIẢM TỬ VONG.
Một lựa chọn dễ áp dụng là:
• Bắt đầu từ 40 tuổi.
• Thực hiện mỗi 1–2 năm tùy hướng dẫn, nguy cơ cá nhân và khả năng tiếp cận.
• USPSTF khuyến cáo nhũ ảnh mỗi hai năm cho phụ nữ 40–74 tuổi.
• Sau 75 tuổi, quyết định dựa trên sức khỏe tổng thể, tuổi thọ dự kiến và mong muốn của người phụ nữ.
Không có một lịch duy nhất tuyệt đối cho mọi quốc gia. Chương trình dân số phải cân bằng lợi ích, tác hại, nguồn lực và khả năng bảo đảm chẩn đoán–điều trị sau tầm soát. USPSTF 2024
PHỤ NỮ NGUY CƠ CAO
Người có nguy cơ suốt đời khoảng 20–25% trở lên hoặc mang đột biến gene nguy cơ cao thường được khuyến cáo:
• MRI vú hằng năm;
• Kết hợp nhũ ảnh hằng năm;
• Thường bắt đầu khoảng 30 tuổi, nhưng phải cá thể hóa theo loại nguy cơ.
MRI không thay thế nhũ ảnh vì mỗi phương tiện có thể phát hiện những dạng tổn thương khác nhau. American Cancer Society
7. SIÊU ÂM VÚ KHÔNG PHẢI XÉT NGHIỆM TẦM SOÁT ĐƠN ĐỘC CHUẨN
Siêu âm có thể phát hiện một số ung thư, nhất là ở mô vú dày, nhưng điều đó chưa đủ để kết luận siêu âm đơn độc là xét nghiệm tầm soát.
Siêu âm chủ yếu được dùng để:
• Đánh giá một bất thường phát hiện khi khám hoặc trên nhũ ảnh.
• Phân biệt khối nang và khối đặc.
• Hỗ trợ đánh giá mô vú dày trong một số tình huống.
• Hướng dẫn sinh thiết.
Dùng siêu âm đơn độc cho tất cả phụ nữ không triệu chứng có thể phát hiện thêm tổn thương, nhưng cũng làm tăng kết quả dương tính giả, theo dõi và sinh thiết không cần thiết. Quan trọng hơn, chưa có bằng chứng đủ mạnh cho thấy chiến lược này làm giảm tử vong như nhũ ảnh.

8. NHỮNG THỨ KHÔNG NÊN DÙNG ĐỂ TẦM SOÁT UNG THƯ VÚ
Không dùng cho phụ nữ không triệu chứng, nguy cơ trung bình:
• Siêu âm vú đơn độc
• CA 15-3, CEA hoặc một loạt “dấu ấn ung thư”.
• CT, PET/CT hoặc xạ hình xương.
• MRI đại trà.
• Sinh thiết khi chưa có chỉ định hình ảnh.
• Khám vú hoặc tự khám vú như phương tiện thay thế nhũ ảnh.
Phụ nữ vẫn nên NHẬN BIẾT TRẠNG THÁI BÌNH THƯỜNG CỦA VÚ để phát hiện thay đổi, nhưng tự khám vú theo lịch không phải là phương pháp tầm soát đã được chứng minh giảm tử vong.
9. TẦM SOÁT CŨNG CÓ HẠI
Một chương trình tầm soát tốt phải công khai cả lợi ích và nguy cơ:
• Dương tính giả.
• Lo âu và chụp kiểm tra nhiều lần.
• Sinh thiết lành tính.
• Phơi nhiễm bức xạ mức thấp.
• Chẩn đoán quá mức: phát hiện ung thư mà nếu không tầm soát có thể không bao giờ gây hại trong suốt đời người đó.
• Điều trị quá mức phát sinh từ chẩn đoán quá mức.
Vì vậy, “chụp càng nhiều càng an toàn” là suy luận sai. Tầm soát đúng là đúng người, đúng phương tiện, đúng khoảng thời gian và có hệ thống xử trí kết quả bất thường.
PHẦN III. CHẨN ĐOÁN SỚM: KHÔNG CHỜ ĐẾN KHI KHỐI U LỚN
10. NHỮNG DẤU HIỆU CẦN ĐI KHÁM
• Khối mới xuất hiện ở vú hoặc nách.
• Vùng vú dày lên hoặc biến dạng.
• Da vú lõm, co kéo, sần da cam, phù hoặc đỏ kéo dài.
• Núm vú mới tụt vào trong hoặc lệch bất thường.
• Tiết dịch núm vú tự nhiên, đặc biệt dịch máu hoặc một bên.
• Chàm, loét núm vú không lành.
• Thay đổi kích thước hoặc hình dạng một bên vú.
• Đau khu trú kéo dài kèm bất thường khác.
Phần lớn khối vú không phải ung thư, nhưng không thể kết luận lành hay ác chỉ bằng sờ tay hoặc dựa vào việc “có đau hay không”.
11. CHẨN ĐOÁN PHẢI DỰA TRÊN BA TRỤ CỘT
– KHÁM LÂM SÀNG
Ghi nhận vị trí, kích thước, tính chất khối, da–núm vú và hạch vùng.
– HÌNH ẢNH HỌC PHÙ HỢP
Tùy tuổi và tình huống:
• Nhũ ảnh chẩn đoán.
• Siêu âm vú và hạch.
• MRI trong những chỉ định chọn lọc.
Kết quả cần được phân loại BI-RADS rõ ràng và đối chiếu với hình ảnh cũ.
– MÔ BỆNH HỌC
Tổn thương nghi ngờ thường cần sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn hình ảnh. Chọc hút tế bào đơn thuần không cung cấp đầy đủ cấu trúc mô và dấu ấn sinh học trong nhiều trường hợp.
Nguyên tắc quan trọng là tương hợp ba bên:
Lâm sàng – hình ảnh – mô bệnh học phải giải thích được lẫn nhau.
Một kết quả sinh thiết “lành tính” không đương nhiên kết thúc chẩn đoán nếu hình ảnh rất nghi ngờ hoặc mẫu sinh thiết không lấy đúng tổn thương.
12. SAU KHI XÁC ĐỊNH UNG THƯ PHẢI BIẾT CẢ GIAI ĐOẠN LẪN SINH HỌC BƯỚU
Bệnh phẩm cần đánh giá tối thiểu:
• Loại mô học.
• Độ mô học.
• Kích thước và mức độ xâm lấn.
• Tình trạng hạch.
• Diện cắt nếu đã phẫu thuật.
• ER, PR.
• HER2.
• Ki-67 trong bối cảnh phù hợp.
• Xâm nhập mạch bạch huyết–mạch máu.
• Các xét nghiệm phân tử hoặc gene khi có chỉ định.
ER, PR và HER2 không phải “xét nghiệm làm cho đủ hồ sơ”; chúng quyết định lựa chọn điều trị nội tiết, kháng HER2 và nhiều chiến lược toàn thân khác. NCI – Breast Cancer Biomarkers
CT, PET/CT và xạ hình xương không cần làm thường quy cho mọi ung thư vú rất sớm, không triệu chứng. Chỉ định đánh giá di căn phải dựa trên giai đoạn, nguy cơ và triệu chứng.
PHẦN IV. ĐIỀU TRỊ ĐẦY ĐỦ: ĐÚNG GIAI ĐOẠN, ĐÚNG SINH HỌC, ĐÚNG TRÌNH TỰ
13. ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI “MỔ CÀNG RỘNG CÀNG TỐT”
Kế hoạch điều trị được quyết định bởi:
• Giai đoạn tại chỗ, hạch và di căn.
• Loại mô học, độ mô học.
• ER, PR, HER2.
• Tình trạng mãn kinh.
• Tuổi, bệnh kèm và khả năng chịu đựng điều trị.
• Nguy cơ tái phát.
• Mong muốn bảo tồn vú, sinh sản và chất lượng sống.
• Khả năng tiếp cận và chi phí.
Điều trị thường phối hợp nhiều phương pháp.
14. PHẪU THUẬT
Hai hướng chính:
• Phẫu thuật bảo tồn vú, thường kết hợp xạ trị.
• Đoạn nhũ trong những trường hợp phù hợp.
Ở bệnh nhân được lựa chọn đúng, phẫu thuật bảo tồn kết hợp xạ trị có hiệu quả sống còn tương đương đoạn nhũ. Cắt cả vú không tự động làm hết nguy cơ tái phát hay loại bỏ nhu cầu điều trị toàn thân.
Đánh giá hạch nách phải có chỉ định:
• Sinh thiết hạch lính gác giúp tránh nạo hạch nách không cần thiết ở nhiều bệnh nhân hạch lâm sàng âm tính.
• Không phải cứ có ung thư vú là nạo sạch hạch nách.
• Nhưng cũng không được bỏ qua đánh giá hạch khi có chỉ định.
15. ĐIỀU TRỊ TRƯỚC PHẪU THUẬT
Hóa trị, thuốc kháng HER2, miễn dịch hoặc nội tiết trước mổ có thể được sử dụng để:
• Thu nhỏ bướu, tăng khả năng bảo tồn vú.
• Làm giảm gánh nặng hạch.
• Đánh giá mức độ đáp ứng.
• Dùng bệnh tồn lưu sau điều trị để lựa chọn thuốc hỗ trợ tiếp theo.
Điều trị trước mổ đặc biệt quan trọng ở nhiều trường hợp HER2 dương tính hoặc ung thư vú bộ ba âm tính giai đoạn II–III. Nếu vội mổ trước, có thể làm mất một phần thông tin đáp ứng rất có giá trị.
16. XẠ TRỊ
Xạ trị thường cần sau phẫu thuật bảo tồn và được cân nhắc sau đoạn nhũ dựa trên:
• Kích thước bướu.
• Hạch.
• Diện cắt.
• Xâm lấn thành ngực hoặc da.
• Các yếu tố nguy cơ tái phát tại vùng.
Xạ trị không phải “đốt cho sạch”, cũng không phải càng nhiều tia càng tốt. Thể tích, liều và kỹ thuật phải được lập kế hoạch chính xác.
17. ĐIỀU TRỊ TOÀN THÂN THEO NHÓM SINH HỌC
– UNG THƯ VÚ HR DƯƠNG TÍNH
Điều trị nội tiết là trụ cột. Tùy tình trạng kinh nguyệt và nguy cơ:
• Tamoxifen.
• Ức chế aromatase.
• Ức chế chức năng buồng trứng.
• Một số thuốc đích phối hợp ở nhóm nguy cơ cao.
Một số bệnh nhân HR dương tính, HER2 âm tính giai đoạn sớm có thể dùng xét nghiệm biểu hiện gene như Oncotype DX để đánh giá lợi ích hóa trị; không phải ai ER dương tính cũng cần hóa trị và cũng không phải ai cũng cần xét nghiệm gene. NCI – Chẩn đoán ung thư vú
– UNG THƯ VÚ HER2 DƯƠNG TÍNH
Thuốc kháng HER2 đã làm thay đổi mạnh tiên lượng bệnh. Điều trị có thể bao gồm trastuzumab và các thuốc kháng HER2 khác, phối hợp hóa trị tùy giai đoạn và nguy cơ.
– UNG THƯ VÚ BỘ BA ÂM TÍNH
Hóa trị là nền tảng. Miễn dịch có vai trò trong một số trường hợp giai đoạn sớm nguy cơ cao hoặc di căn, tùy chỉ dấu và bối cảnh. Bệnh tồn lưu sau điều trị trước mổ có thể dẫn đến chỉ định điều trị hỗ trợ bổ sung.
– NGƯỜI MANG ĐỘT BIẾN BRCA NGUY CƠ CAO
Một số bệnh nhân HER2 âm tính có đột biến BRCA dòng mầm và nguy cơ tái phát cao có thể phù hợp với thuốc ức chế PARP.
18. UNG THƯ VÚ DI CĂN VẪN PHẢI ĐIỀU TRỊ CÓ HỆ THỐNG
Giai đoạn IV thường không còn mục tiêu chữa khỏi bằng phẫu thuật đơn độc, nhưng nhiều bệnh nhân có thể sống lâu và kiểm soát bệnh trong nhiều năm nhờ:
• Nội tiết và thuốc đích.
• Thuốc kháng HER2.
• Hóa trị.
• Miễn dịch.
• Các thuốc liên hợp kháng thể–thuốc.
• Xạ trị hoặc phẫu thuật giảm triệu chứng trong trường hợp chọn lọc.
• Điều trị giảm nhẹ sớm.
Chăm sóc giảm nhẹ không có nghĩa là buông xuôi. Đó là kiểm soát triệu chứng, bảo vệ chức năng và chất lượng sống song song với điều trị ung thư.
PHẦN V. GIẢM NGUY CƠ TÁI PHÁT: BẮT ĐẦU NGAY TỪ KHI LẬP KẾ HOẠCH ĐIỀU TRỊ
19. TÁI PHÁT KHÔNG CHỈ DO “CƠ ĐỊA”
Nguy cơ tái phát chịu ảnh hưởng bởi:
• Giai đoạn ban đầu.
• Sinh học bướu.
• Mức độ đáp ứng điều trị.
• Chất lượng phẫu thuật và xạ trị.
• Lựa chọn điều trị toàn thân.
• Việc hoàn thành và tuân thủ điều trị.
• Một số yếu tố sức khỏe và lối sống.
Muốn giảm tái phát phải làm đúng ngay từ đầu, không phải đợi điều trị xong rồi tìm thực phẩm chức năng “ngừa tái phát”.
20. NHỮNG VIỆC CÓ BẰNG CHỨNG VÀ GIÁ TRỊ THỰC TẾ
• Hoàn thành hóa trị, xạ trị và điều trị kháng HER2 khi có chỉ định.
• Tuân thủ điều trị nội tiết đủ thời gian.
• Xử trí tác dụng phụ để người bệnh không phải tự bỏ thuốc.
• Duy trì cân nặng hợp lý.
• Vận động đều đặn.
• Hạn chế hoặc tránh rượu.
• Không hút thuốc.
• Điều trị tăng huyết áp, đái tháo đường, loãng xương và bệnh tim mạch.
• Phục hồi chức năng vai, cánh tay và xử trí phù bạch huyết.
• Chăm sóc sức khỏe tâm thần và giấc ngủ.
• Tái khám và chụp nhũ ảnh vú còn lại hoặc vú đã bảo tồn đúng lịch.
Không có chế độ ăn nào bảo đảm ung thư không tái phát. Người bệnh không cần kiêng thịt, đường, sữa hay đậu nành một cách cực đoan. Suy dinh dưỡng và mất cơ có thể làm người bệnh yếu đi trước khi kịp “bỏ đói” được tế bào ung thư.
21. THEO DÕI SAU ĐIỀU TRỊ: KHÔNG PHẢI XÉT NGHIỆM CÀNG NHIỀU CÀNG TỐT
Theo dõi chuẩn tập trung vào:
• Hỏi bệnh và khám định kỳ.
• Nhũ ảnh định kỳ đối với vú còn lại hoặc vú đã bảo tồn.
• Theo dõi tác dụng phụ muộn của nội tiết, hóa trị, thuốc kháng HER2 và xạ trị.
• Sức khỏe xương, tim mạch, mãn kinh và sinh dục.
• Phục hồi chức năng.
• Phát hiện triệu chứng gợi ý tái phát.
Ở người không triệu chứng, không nên làm thường quy:
• CEA, CA 15-3.
• CT toàn thân liên tục.
• PET/CT định kỳ.
• Xạ hình xương định kỳ.
• Siêu âm bụng hoặc MRI não chỉ để “kiểm tra cho chắc”.
Những xét nghiệm này có thể phát hiện nhiều bất thường tình cờ, gây lo âu và thủ thuật không cần thiết nhưng chưa chứng minh cải thiện sống còn khi sử dụng đại trà ở người không triệu chứng.
Cần đánh giá sớm nếu xuất hiện:
• Đau xương khu trú, tăng dần hoặc về đêm.
• Khó thở, ho kéo dài.
• Đau đầu mới, yếu liệt hoặc co giật.
• Sụt cân không giải thích được.
• Vàng da, chướng bụng.
• Khối mới tại vú, thành ngực, nách hoặc vùng thượng đòn.
PHẦN VI. NHỮNG SAI LẦM CẦN CHẤM DỨT
ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG
• Có khối vú nhưng trì hoãn vì “không đau chắc lành”.
• Chỉ siêu âm vú hằng năm và cho rằng đã tầm soát đầy đủ.
• Xét nghiệm CA 15-3 bình thường rồi kết luận không ung thư.
• Sinh thiết hoặc mổ ngay mọi tổn thương BI-RADS 3.
• Điều trị bằng thuốc nam, thực dưỡng hoặc thực phẩm chức năng trước khi có chẩn đoán mô bệnh học.
• Tự bỏ nội tiết vì đau khớp hoặc nghe nói thuốc “làm hại gan”.
• Chụp PET/CT liên tục để tìm tái phát khi không có chỉ định.
ĐỐI VỚI NHÀ CHUYÊN MÔN
• Gọi siêu âm đơn độc ở người không triệu chứng là tầm soát chuẩn.
• Không phân tầng nguy cơ trước khi xây dựng chương trình tầm soát.
• Không đối chiếu lâm sàng–hình ảnh–mô bệnh học.
• Mổ trước khi đánh giá đầy đủ giai đoạn và sinh học bướu.
• Không làm hoặc diễn giải không chuẩn ER, PR, HER2.
• Chỉ định CT, PET/CT, dấu ấn bướu tràn lan cho bệnh giai đoạn sớm.
• Nạo hạch nách quá mức.
• Đồng nhất “điều trị tích cực” với phẫu thuật rộng và dùng nhiều thuốc.
• Không kiểm soát tác dụng phụ, khiến người bệnh bỏ điều trị có ích.
• Theo dõi bằng xét nghiệm dày đặc nhưng bỏ qua phục hồi chức năng, sức khỏe xương, tim mạch và tâm lý.
PHẦN VII. MUỐN GIẢM TỬ VONG, HỆ THỐNG Y TẾ PHẢI LÀM GÌ?
WHO đặt mục tiêu giảm tử vong ung thư vú thông qua ba trụ cột:
1. Nâng cao nhận thức và phát hiện sớm.
2. Chẩn đoán kịp thời.
3. Điều trị toàn diện.
Một hệ thống kiểm soát ung thư vú hiệu quả cần:
• Cơ sở dữ liệu ung thư dân số đủ tin cậy.
• Chương trình tầm soát có tổ chức, không chỉ bán gói kiểm tra.
• Hệ thống nhũ ảnh được kiểm chuẩn chất lượng.
• Đọc kết quả theo BI-RADS và có đối chiếu hai người khi cần.
• Đường chuyển tuyến rõ ràng từ kết quả bất thường đến sinh thiết.
• Giải phẫu bệnh và hóa mô miễn dịch đạt chuẩn.
• Hội chẩn đa chuyên khoa trước điều trị ở các trường hợp phức tạp.
• Bảo đảm tiếp cận phẫu thuật, xạ trị và thuốc thiết yếu.
• Hoàn tất chẩn đoán và bắt đầu điều trị trong thời gian hợp lý.
• Điều hướng người bệnh để không bị lạc giữa các chuyên khoa.
• Theo dõi chất lượng điều trị và kết quả sống còn, không chỉ đếm số lượt khám hay số ca mổ.
Khẩu hiệu của WHO là chẩn đoán ít nhất 60% trường hợp ở giai đoạn I–II, hoàn tất đánh giá chẩn đoán trong khoảng 60 ngày và ít nhất 80% người bệnh được điều trị đầy đủ. Đây là mục tiêu hệ thống, không thể đẩy toàn bộ trách nhiệm sang người phụ nữ với lời khuyên đơn giản: “Hãy tự đi khám sớm.” WHO Global Breast Cancer Initiative
KẾT LUẬN: KIỂM SOÁT UNG THƯ VÚ LÀ MỘT CHUỖI, KHÔNG PHẢI MỘT XÉT NGHIỆM
Ung thư vú đang đứng đầu về số ca ung thư mới ở Việt Nam. Nhưng tử vong cao không phải là điều không thể thay đổi.
Muốn giảm số ca mắc mới, phải tác động vào những yếu tố nguy cơ có thể thay đổi và quản lý đúng người nguy cơ cao.
Muốn giảm tử vong, phải:
• Tầm soát đúng đối tượng bằng nhũ ảnh.
• Giúp người có triệu chứng được chẩn đoán nhanh.
• Xác định chính xác giai đoạn và sinh học bướu.
• Điều trị đủ, đúng trình tự và cá thể hóa.
• Kiểm soát tác dụng phụ để người bệnh hoàn thành điều trị.
• Giảm nguy cơ tái phát bằng các biện pháp có bằng chứng.
• Theo dõi đúng, không lạm dụng xét nghiệm và hình ảnh học.
KHÔNG PHẢI PHÁT HIỆN THẬT NHIỀU TỔN THƯƠNG LÀ KIỂM SOÁT ĐƯỢC UNG THƯ VÚ. CHỈ KHI PHÒNG NGỪA ĐÚNG, PHÁT HIỆN ĐÚNG, CHẨN ĐOÁN ĐÚNG VÀ ĐIỀU TRỊ ĐÚNG THÌ SỐ NGƯỜI TỬ VONG MỚI THỰC SỰ GIẢM
BS CKII NGUYỄN HỮU HÒA – Chuyên gia Ung bướu, Cố vấn Chuyên môn Phòng khám đa khoa Pasteur






