Ung thư cổ tử cung là một nghịch lý đau lòng của y học hiện đại: đây là một trong số ít ung thư mà chúng ta đã biết khá rõ nguyên nhân, có vaccine để phòng ngừa, có xét nghiệm để phát hiện giai đoạn tiền ung thư và có khả năng chữa khỏi cao nếu phát hiện sớm—nhưng mỗi năm vẫn có hàng nghìn phụ nữ Việt Nam mắc bệnh và tử vong.
Muốn kiểm soát căn bệnh này, không thể chỉ kêu gọi phụ nữ “đi khám sớm”. Phải xây dựng một chuỗi can thiệp hoàn chỉnh:
TIÊM VACCINE HPV → TẦM SOÁT ĐÚNG → XỬ TRÍ TRIỆT ĐỂ TIỀN UNG THƯ → CHẨN ĐOÁN VÀ PHÂN GIAI ĐOẠN CHÍNH XÁC → ĐIỀU TRỊ ĐỦ CHUẨN → THEO DÕI VÀ PHỤC HỒI LÂU DÀI.
Chỉ cần một mắt xích bị bỏ quên, người phụ nữ vẫn có thể đi từ nhiễm HPV đến ung thư xâm lấn.
Theo GLOBOCAN 2022, Việt Nam ước tính có khoảng:
• 4.612 ca ung thư cổ tử cung mới
• 2.571 trường hợp tử vong
• Trung bình mỗi ngày có khoảng 12 phụ nữ mắc bệnh và 7 phụ nữ tử vong.
GLOBOCAN 2024—bộ ước tính mới được IARC công bố ngày 8/7/2026—ước tính Việt Nam có khoảng:
• 8.274 ca mắc mới
• 4.110 ca tử vong
• Ung thư cổ tử cung đứng hàng thứ tư về số ca mắc mới ở phụ nữ Việt Nam, sau ung thư vú, tuyến giáp và đại trực tràng.
Như vậy, số ca ước tính trong GLOBOCAN 2024 cao hơn đáng kể so với GLOBOCAN 2022. Tuy nhiên, không nên nhìn hai con số rồi kết luận ngay rằng nguy cơ mắc bệnh đã tăng gần gấp đôi chỉ trong hai năm.
GLOBOCAN không phải là số ca được kiểm đếm đầy đủ từ tất cả bệnh viện. Đây là các ước tính dịch tễ học, phụ thuộc vào:
• Mức độ bao phủ và chất lượng của hệ thống ghi nhận ung thư;
• Chất lượng dữ liệu tử vong;
• Dân số và cơ cấu tuổi;
• Phương pháp ước tính được cập nhật;
• Nguồn dữ liệu quốc gia sẵn có tại từng thời điểm.
Vì vậy, GLOBOCAN cho thấy gánh nặng bệnh đang rất lớn và có thể đã bị đánh giá thấp trước đây, nhưng muốn khẳng định xu hướng tăng hay giảm thật sự phải so sánh tỷ suất mắc chuẩn hóa theo tuổi từ cùng một hệ thống ghi nhận dân số qua nhiều năm, không chỉ so sánh hai con số tuyệt đối.
Dù diễn giải thế nào, hơn 4.000 phụ nữ Việt Nam tử vong mỗi năm vì một ung thư phần lớn có thể phòng ngừa là con số không thể chấp nhận được. GLOBOCAN 2024 – IARC

2. CĂN BỆNH NÀY HÌNH THÀNH NHƯ THẾ NÀO?
NHIỄM HPV KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI UNG THƯ
Hầu hết ung thư cổ tử cung liên quan đến nhiễm dai dẳng HPV nguy cơ cao, đặc biệt là HPV 16 và 18.
HPV lây chủ yếu qua tiếp xúc tình dục, kể cả tiếp xúc da–niêm mạc vùng sinh dục; không nhất thiết phải có giao hợp hoàn toàn. Đây là nhiễm trùng rất phổ biến. Phần lớn người có hoạt động tình dục từng nhiễm HPV ít nhất một lần trong đời.
Nhưng:
• Nhiễm HPV không có nghĩa là đã mắc ung thư;
• Hơn 90% trường hợp nhiễm có thể tự được hệ miễn dịch kiểm soát trong khoảng 1–2 năm;
• Chỉ một tỷ lệ nhỏ bị nhiễm HPV nguy cơ cao dai dẳng;
• Nhiễm dai dẳng có thể gây tổn thương tiền ung thư;
• Nếu không được phát hiện và xử trí, một số tổn thương mới tiến triển thành ung thư xâm lấn.
Quá trình này thường kéo dài nhiều năm. Chính “khoảng cửa sổ” dài từ nhiễm HPV đến ung thư tạo cơ hội cho vaccine, tầm soát và điều trị tiền ung thư chặn đứng căn bệnh.
NHỮNG YẾU TỐ LÀM TĂNG NGUY CƠ NHIỄM HPV DAI DẲNG VÀ TIẾN TRIỂN
• Không được tiêm vaccine HPV;
• Không tham gia tầm soát định kỳ;
• Hút thuốc lá hoặc phơi nhiễm khói thuốc;
• Suy giảm miễn dịch, đặc biệt ở người sống chung với HIV;
• Dùng thuốc ức chế miễn dịch hoặc ghép tạng;
• Có nhiều bạn tình hoặc bạn tình có nhiều bạn tình;
• Quan hệ tình dục sớm;
• Đồng nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục;
• Khả năng tiếp cận y tế thấp hoặc không được theo dõi sau kết quả tầm soát bất thường.
Không nên dùng các yếu tố này để phán xét đời sống cá nhân. HPV có thể tồn tại tiềm ẩn nhiều năm nên một kết quả HPV dương tính không chứng minh có quan hệ ngoài hôn nhân gần đây.
PHÒNG NGỪA TÍCH CỰC: CHẶN CĂN BỆNH TRƯỚC KHI NÓ HÌNH THÀNH
3. TIÊM VACCINE HPV LÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA QUAN TRỌNG NHẤT
Vaccine tạo miễn dịch trước khi cơ thể tiếp xúc với các týp HPV gây ung thư. Hiệu quả cao nhất khi tiêm trước khi bắt đầu hoạt động tình dục, nhưng người đã quan hệ tình dục vẫn có thể hưởng lợi vì chưa chắc đã nhiễm tất cả týp HPV có trong vaccine.
WHO ưu tiên tiêm vaccine cho trẻ em gái từ 9–14 tuổi, với mục tiêu ít nhất 90% trẻ gái được tiêm đầy đủ trước 15 tuổi.
Theo khuyến cáo chương trình của WHO:
• Trẻ gái 9–14 tuổi: có thể sử dụng lịch một hoặc hai liều;
• Nữ 15–20 tuổi: một hoặc hai liều tùy chương trình;
• Phụ nữ trên 21 tuổi: thường dùng hai liều cách nhau sáu tháng;
• Người suy giảm miễn dịch hoặc sống chung với HIV: cần ít nhất hai liều, khi có điều kiện nên dùng ba liều.
Lịch tiêm thực tế phải tuân theo loại vaccine được sử dụng, hướng dẫn của Bộ Y tế và thông tin kê đơn tại Việt Nam. Khuyến cáo vaccine HPV của WHO
Từ ngày 1/7/2026, vaccine HPV đã chính thức được đưa vào Chương trình Tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam; phạm vi, lứa tuổi và tiến độ triển khai phụ thuộc kế hoạch từng địa phương. Bộ Y tế Việt Nam
NHỮNG ĐIỀU CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ VACCINE HPV
• Vaccine không chứa virus sống và không gây nhiễm HPV;
• Vaccine không gây vô sinh;
• Không cần xét nghiệm HPV trước khi tiêm thường quy;
• Đã nhiễm một týp HPV vẫn có thể được bảo vệ trước các týp khác;
• Vaccine phòng nhiễm mới nhưng không điều trị nhiễm HPV hoặc tổn thương đã có;
• Người đã tiêm vaccine vẫn cần tầm soát cổ tử cung khi đến tuổi;
• Vaccine không chỉ có ý nghĩa đối với nữ giới: tiêm cho nam giới giúp phòng sùi mào gà và các ung thư hậu môn, dương vật, hầu họng liên quan HPV, đồng thời giảm lây truyền.
4. GIẢM CÁC YẾU TỐ THÚC ĐẨY BỆNH
Bên cạnh vaccine:
• Không hút thuốc và tránh khói thuốc;
• Sử dụng bao cao su giúp giảm nguy cơ lây nhiễm nhưng không bảo vệ hoàn toàn vì HPV có thể lây từ vùng da không được bao phủ;
• Khám và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục;
• Điều trị HIV tốt bằng thuốc kháng virus;
• Duy trì dinh dưỡng và sức khỏe tổng thể hợp lý.
Không có thuốc uống, thuốc đặt, thực phẩm chức năng, nấm, lá cây hay sản phẩm “tăng miễn dịch” nào được chứng minh có thể làm sạch HPV chắc chắn hoặc ngăn ung thư cổ tử cung.
TẦM SOÁT ĐÚNG: TÌM HPV VÀ TIỀN UNG THƯ, KHÔNG ĐỢI THẤY KHỐI U
5. TẦM SOÁT KHÁC VỚI CHẨN ĐOÁN
Tầm soát dành cho người chưa có triệu chứng, nhằm phát hiện nhiễm HPV nguy cơ cao hoặc tổn thương tiền ung thư.
Chẩn đoán dành cho người đã có triệu chứng, khám thấy tổn thương hoặc có kết quả tầm soát bất thường.
Đây là ranh giới rất quan trọng:
• Người không triệu chứng cần tham gia chương trình tầm soát đúng độ tuổi;
• Người đang ra máu âm đạo bất thường không được làm một xét nghiệm Pap rồi yên tâm chờ kết quả—họ cần được khám và chẩn đoán ngay.
6. CÁC PHƯƠNG PHÁP TẦM SOÁT
XÉT NGHIỆM HPV NGUY CƠ CAO
Đây là phương pháp được WHO ưu tiên vì có độ nhạy cao hơn tế bào học trong phát hiện tổn thương tiền ung thư nặng.
WHO khuyến nghị đối với dân số nguy cơ thông thường:
• Bắt đầu tầm soát bằng xét nghiệm HPV DNA từ khoảng 30 tuổi;
• Lặp lại mỗi 5–10 năm nếu kết quả âm tính, tùy chương trình quốc gia và loại xét nghiệm;
• Người sống chung với HIV bắt đầu từ 25 tuổi và tầm soát mỗi 3–5 năm.
Mẫu xét nghiệm có thể do nhân viên y tế lấy hoặc, với hệ thống đã được thẩm định, người phụ nữ có thể tự lấy mẫu âm đạo. Tự lấy mẫu giúp tiếp cận những người ngại khám phụ khoa, nhưng HPV dương tính vẫn phải được phân tầng và theo dõi đầy đủ. Hướng dẫn tầm soát của WHO
TẾ BÀO HỌC CỔ TỬ CUNG—PAP SMEAR
Pap smear tìm tế bào bất thường đã xuất hiện ở cổ tử cung. Đây là phương pháp có giá trị nhưng độ nhạy thấp hơn xét nghiệm HPV, do đó phải làm lặp lại thường xuyên hơn—thông thường khoảng ba năm nếu dùng đơn độc và kết quả bình thường.
ĐỒNG XÉT NGHIỆM HPV VÀ TẾ BÀO HỌC
Một số hệ thống y tế sử dụng HPV kết hợp Pap. Khoảng cách tầm soát thường dài hơn, nhưng chi phí và độ phức tạp cũng tăng. Làm cả hai xét nghiệm hằng năm ở người nguy cơ trung bình không giúp ích tương xứng mà dễ dẫn đến xét nghiệm và thủ thuật quá mức.
QUAN SÁT CỔ TỬ CUNG BẰNG ACID ACETIC—VIA
VIA có thể được sử dụng ở nơi hạn chế nguồn lực, nhất là trong chiến lược khám và điều trị cùng ngày. Tuy nhiên, WHO định hướng chuyển sang HPV DNA vì hiệu quả và tính khách quan cao hơn.
7. AI CẦN MỘT LỘ TRÌNH RIÊNG?
Không nên áp dụng máy móc cùng một lịch tầm soát cho tất cả mọi người. Cần cá thể hóa ở người:
• Sống chung với HIV hoặc suy giảm miễn dịch;
• Từng có CIN2, CIN3, AIS hoặc ung thư cổ tử cung;
• Đã điều trị tổn thương tiền ung thư;
• Có kết quả HPV hoặc tế bào học bất thường;
• Từng phơi nhiễm diethylstilbestrol trong bào thai;
• Đã cắt tử cung nhưng không rõ cổ tử cung còn hay không;
• Đã cắt tử cung do tổn thương tiền ung thư hoặc ung thư.
Ngược lại, người đã cắt tử cung toàn phần vì bệnh lành tính, không còn cổ tử cung và không có tiền sử tổn thương tiền ung thư mức độ cao thường không cần tiếp tục tầm soát cổ tử cung.
Việc dừng tầm soát ở khoảng 65 tuổi chỉ được cân nhắc khi người phụ nữ đã có các lần tầm soát âm tính đầy đủ trước đó và không thuộc nhóm nguy cơ cao. Không nên dùng tuổi 65 làm “lệnh ngừng” nếu trước đó gần như chưa được tầm soát.

8. HPV DƯƠNG TÍNH KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ UNG THƯ
Kết quả HPV dương tính cần được xử trí theo:
• Týp HPV, đặc biệt HPV 16 và 18;
• Kết quả tế bào học;
• Tuổi;
• Tiền sử tầm soát;
• Tình trạng miễn dịch;
• Khả năng theo dõi và điều trị.
Tùy nguy cơ, người bệnh có thể được:
• Lặp lại HPV sau một khoảng thời gian;
• Làm tế bào học;
• Soi cổ tử cung;
• Sinh thiết tổn thương;
• Điều trị tổn thương tiền ung thư.
Sai lầm ở hai thái cực đều nguy hiểm:
• Xem HPV dương tính như đã mắc ung thư và vội vàng can thiệp;
• Xem nhẹ HPV nguy cơ cao rồi bỏ theo dõi.
9. KHÔNG ĐIỀU TRỊ CHỈ DỰA TRÊN KẾT QUẢ “HPV DƯƠNG TÍNH”
Thuốc đặt, đốt cổ tử cung hoặc khoét chóp chỉ để “diệt HPV” là không đúng.
Can thiệp nhằm điều trị tổn thương tiền ung thư đã được xác định, không phải cố loại bỏ một kết quả xét nghiệm virus. Đốt hoặc cắt mô không đúng chỉ định có thể gây chảy máu, hẹp cổ tử cung, ảnh hưởng thai kỳ và làm mất cơ hội đánh giá mô bệnh học chính xác.
CHẨN ĐOÁN SỚM VÀ ĐÚNG
10. NHỮNG DẤU HIỆU KHÔNG ĐƯỢC CHỜ ĐỢI
Ung thư cổ tử cung giai đoạn tiền ung thư và giai đoạn rất sớm thường không có triệu chứng. Khi đã có triệu chứng, cần nghĩ đến bệnh và khám ngay:
• Ra máu âm đạo sau quan hệ tình dục;
• Ra máu giữa hai kỳ kinh;
• Ra máu sau mãn kinh;
• Kinh kéo dài hoặc nhiều bất thường;
• Khí hư nhiều, lẫn máu hoặc có mùi hôi;
• Đau khi quan hệ;
• Đau vùng chậu, lưng hoặc chân kéo dài;
• Mệt, sụt cân, chán ăn;
• Phù một hoặc hai chân;
• Rối loạn tiểu tiện hoặc đại tiện ở bệnh tiến triển.
Các triệu chứng này không đồng nghĩa chắc chắn mắc ung thư nhưng phải được khám phụ khoa và chẩn đoán, không còn là tình huống tầm soát. WHO – Cervical cancer
11. CHẨN ĐOÁN PHẢI DỰA TRÊN MÔ BỆNH HỌC
Quy trình hợp lý gồm:
1. Khai thác bệnh sử và yếu tố nguy cơ;
2. Khám phụ khoa bằng mỏ vịt và khám âm đạo–trực tràng khi cần;
3. Soi cổ tử cung nếu phù hợp;
4. Sinh thiết tổn thương;
5. Khoét chóp cổ tử cung trong một số trường hợp cần đánh giá đầy đủ vùng chuyển tiếp, độ sâu xâm lấn hoặc loại trừ ung thư xâm nhập.
HPV, Pap smear, siêu âm, CT, MRI hay PET/CT không thay thế sinh thiết để xác định ung thư.
Báo cáo mô bệnh học cần nêu rõ:
• Loại mô học: carcinôm tế bào gai, tuyến, tuyến–gai hoặc loại hiếm;
• Độ mô học khi có ý nghĩa;
• Độ sâu và chiều ngang xâm lấn;
• Xâm nhập mạch máu–bạch huyết;
• Diện cắt;
• Tình trạng mô đệm cạnh cổ tử cung, âm đạo và hạch nếu đã phẫu thuật.
12. PHÂN GIAI ĐOẠN TRƯỚC ĐIỀU TRỊ
Sau khi xác định ung thư, cần đánh giá mức độ lan rộng bằng:
• Khám lâm sàng đầy đủ;
• MRI vùng chậu khi có điều kiện để đánh giá bướu tại chỗ;
• CT ngực–bụng–chậu hoặc PET/CT khi cần đánh giá hạch và di căn;
• Xét nghiệm máu, chức năng thận, gan và công thức máu;
• Nội soi bàng quang hoặc trực tràng chỉ khi nghi xâm lấn;
• Đánh giá hạch bằng hình ảnh hoặc phẫu thuật trong các tình huống thích hợp.
Giai đoạn FIGO hiện đại không còn chỉ dựa vào khám lâm sàng; kết quả hình ảnh và mô bệnh học cũng được tích hợp.
Điều trị phải được quyết định trước khi bắt đầu bởi nhóm đa chuyên khoa gồm phụ khoa ung thư, xạ trị, nội khoa ung thư, chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh và chăm sóc hỗ trợ.
ĐIỀU TRỊ ĐẦY ĐỦ: ĐÚNG NGƯỜI, ĐÚNG GIAI ĐOẠN, ĐÚNG KỸ THUẬT
13. TỔN THƯƠNG TIỀN UNG THƯ KHÔNG PHẢI ĐỀU PHẢI CẮT TỬ CUNG
CIN1 hoặc LSIL
Phần lớn có thể thoái triển. Theo dõi thường thích hợp hơn điều trị ngay, trừ trường hợp kéo dài hoặc có yếu tố đặc biệt.
CIN2
Có thể điều trị hoặc, ở một số phụ nữ trẻ muốn sinh con và đáp ứng đầy đủ điều kiện an toàn, theo dõi chặt chẽ.
CIN3 hoặc HSIL
Có nguy cơ tiến triển cao hơn và thường cần điều trị bằng thủ thuật cắt bỏ vùng tổn thương như LEEP/LLETZ hoặc khoét chóp.
UNG THƯ TUYẾN TẠI CHỖ—AIS
Thường cần khoét chóp nguyên khối để đánh giá chính xác diện cắt và loại trừ xâm lấn. Cắt tử cung có thể được khuyến nghị sau khi hoàn tất sinh con; bảo tồn sinh sản chỉ dành cho trường hợp chọn lọc, diện cắt âm tính và có khả năng theo dõi nghiêm ngặt.
Cắt tử cung không phải điều trị mặc định cho mọi HPV dương tính, CIN1 hay CIN2.
14. UNG THƯ CỔ TỬ CUNG GIAI ĐOẠN SỚM
Tùy kích thước bướu, độ sâu xâm lấn, tình trạng hạch, loại mô học, tuổi và nhu cầu sinh sản, các lựa chọn có thể gồm:
• Khoét chóp cổ tử cung;
• Cắt cổ tử cung đơn giản hoặc tận gốc để bảo tồn thân tử cung;
• Cắt tử cung đơn giản;
• Cắt tử cung tận gốc;
• Đánh giá hạch bằng hạch lính gác hoặc nạo hạch;
• Xạ trị hoặc hóa xạ trị trong những trường hợp thích hợp.
Một số ung thư rất sớm có thể được điều trị ít rộng hơn so với trước đây. Nhưng “ít rộng hơn” phải dựa trên chọn bệnh chính xác, mô bệnh học tin cậy và kỹ thuật ung thư học chuẩn—not phải mổ đơn giản vì đánh giá thiếu.
Mặt khác, cần tránh lựa chọn phẫu thuật nếu khả năng sau mổ vẫn phải hóa xạ trị rất cao. Kết hợp cả phẫu thuật tận gốc và hóa xạ trị làm tăng độc tính đường tiểu, đường ruột, tình dục và phù bạch huyết mà không phải lúc nào cũng mang lại lợi ích tương xứng.
15. BỆNH TIẾN TRIỂN TẠI CHỖ
Đối với đa số ung thư cổ tử cung tiến triển tại chỗ, điều trị chuẩn là:
• Xạ trị ngoài vùng chậu;
• Hóa trị đồng thời, thường dùng cisplatin nếu đủ điều kiện;
• Xạ trị áp sát.
XẠ TRỊ ÁP SÁT là thành phần thiết yếu, không phải phần phụ có thể tùy tiện bỏ qua. Xạ trị ngoài đơn thuần thường không thể cung cấp liều đủ cao và chính xác cho bướu cổ tử cung mà vẫn bảo vệ bàng quang, trực tràng và ruột.
Điều trị cần hoàn thành trong thời gian hợp lý. Trì hoãn nhiều tuần, bỏ dở hóa trị, thiếu xạ áp sát hoặc kéo dài tổng thời gian điều trị có thể làm giảm khả năng kiểm soát bệnh.
Ở một số nhóm nguy cơ cao, điều trị toàn thân bổ sung trước hoặc sau hóa xạ trị đang được cập nhật dựa trên bằng chứng mới, nhưng không nên áp dụng đại trà ngoài chỉ định và điều kiện cụ thể.
16. BỆNH TÁI PHÁT HOẶC DI CĂN
Mục tiêu điều trị phụ thuộc vị trí tái phát, điều trị trước đó, thể trạng và mong muốn người bệnh.
Các lựa chọn có thể gồm:
• Phẫu thuật cứu vãn ở tái phát khu trú được chọn lọc rất kỹ;
• Xạ trị hoặc tái xạ trị tại trung tâm có kinh nghiệm;
• Hóa trị;
• Thuốc kháng tạo mạch;
• Miễn dịch dựa trên chỉ dấu sinh học và chỉ định được công nhận;
• Chăm sóc giảm nhẹ tích cực.
Bệnh di căn không đồng nghĩa với “không còn gì để làm”. Tuy nhiên, phải nói rõ mục tiêu: khi nào còn khả năng điều trị triệt căn, khi nào mục tiêu là kiểm soát bệnh, kéo dài sống và giảm triệu chứng.
Hướng dẫn ESGO/ESTRO/ESP bao quát từ phân giai đoạn, điều trị ban đầu đến tái phát, theo dõi và chăm sóc sống còn. ESGO/ESTRO/ESP 2023
GIẢM NGUY CƠ TÁI PHÁT: KHÔNG CÓ “THUỐC CHỐNG TÁI PHÁT” DÙNG CHUNG
17. YẾU TỐ QUAN TRỌNG NHẤT LÀ ĐIỀU TRỊ BAN ĐẦU ĐẦY ĐỦ
Nguy cơ tái phát phụ thuộc chủ yếu vào:
• Giai đoạn;
• Kích thước bướu;
• Tình trạng hạch;
• Xâm nhập mô cạnh cổ tử cung;
• Diện cắt;
• Xâm nhập mạch máu–bạch huyết;
• Loại mô học;
• Chất lượng phẫu thuật;
• Chất lượng và tổng thời gian hóa xạ trị;
• Việc có hoàn thành xạ trị áp sát hay không.
Vì vậy, cách giảm tái phát hiệu quả nhất không phải uống thêm một sản phẩm nào, mà là:
1. Phân giai đoạn đúng ngay từ đầu;
2. Chọn đúng chiến lược phẫu thuật hoặc hóa xạ trị;
3. Thực hiện đủ kỹ thuật;
4. Không trì hoãn và không bỏ dở điều trị;
5. Chỉ định điều trị hỗ trợ đúng theo yếu tố nguy cơ.
18. THEO DÕI SAU ĐIỀU TRỊ
Theo dõi nhằm:
• Phát hiện tái phát có triệu chứng hoặc còn khả năng can thiệp;
• Đánh giá biến chứng điều trị;
• Phục hồi chức năng tiết niệu, tiêu hóa và tình dục;
• Điều trị phù bạch huyết;
• Hỗ trợ mãn kinh sớm, sức khỏe xương và tâm lý;
• Hỗ trợ cai thuốc lá và phục hồi thể lực.
Mỗi lần tái khám cần khai thác triệu chứng và khám lâm sàng có mục tiêu. Lịch thường dày hơn trong 2–3 năm đầu, sau đó thưa dần, nhưng phải cá thể hóa theo nguy cơ và phương pháp điều trị.
Không có bằng chứng ủng hộ việc định kỳ làm tràn lan:
• CT hoặc PET/CT ở mọi lần tái khám;
• Xét nghiệm “dấu ấn ung thư”;
• HPV liên tục;
• Siêu âm bụng hoặc siêu âm ngả âm đạo thay cho khám;
• Các gói xét nghiệm được quảng cáo là “tìm tái phát toàn thân”.
Chẩn đoán hình ảnh nên được chỉ định khi có triệu chứng, dấu hiệu khám bất thường, nguy cơ đặc biệt hoặc mốc đánh giá đáp ứng sau điều trị theo phác đồ.
CÁC DẤU HIỆU CẦN TRỞ LẠI BỆNH VIỆN SỚM
• Ra máu hoặc khí hư âm đạo mới xuất hiện;
• Đau vùng chậu, lưng hoặc chân kéo dài;
• Phù chân;
• Ho, khó thở kéo dài;
• Tiểu máu, rối loạn tiểu tiện;
• Đi tiêu ra máu hoặc thay đổi thói quen đại tiện;
• Sụt cân, chán ăn, mệt tăng;
• Đau xương khu trú.
19. LỐI SỐNG SAU ĐIỀU TRỊ
Người bệnh nên:
• Không hút thuốc;
• Vận động phù hợp với thể trạng;
• Duy trì cân nặng hợp lý;
• Ăn đa dạng, đủ đạm và giàu thực phẩm tự nhiên;
• Hạn chế rượu;
• Điều trị bệnh kèm;
• Chăm sóc sức khỏe tình dục và tâm lý;
• Tiêm vaccine HPV nếu còn phù hợp sau khi trao đổi với bác sĩ.
Vaccine sau điều trị tổn thương tiền ung thư có thể làm giảm nguy cơ tổn thương CIN tái phát ở một số nhóm, nhưng không thay thế việc cắt bỏ tổn thương và theo dõi. Vaccine cũng không phải thuốc điều trị ung thư xâm lấn.
Không có bằng chứng cho thấy nước kiềm, thực phẩm chức năng, thuốc “thải độc”, thuốc nam, nấm hay sản phẩm “tăng đề kháng” có thể ngăn ung thư cổ tử cung tái phát. Đôi khi thứ tái phát trước tiên lại là hóa đơn mua sản phẩm.
NHỮNG SAI LẦM CẦN CHẤM DỨT
20. SAI LẦM CỦA NGƯỜI DÂN
• Chỉ đi khám khi đã ra máu;
• Nghĩ không có triệu chứng thì không cần tầm soát;
• Nghĩ đã tiêm vaccine thì không cần tầm soát;
• Đồng nhất HPV dương tính với ung thư;
• Tự mua thuốc đặt hoặc thuốc “diệt HPV”;
• Sợ sinh thiết làm ung thư lan;
• Bỏ điều trị chuẩn để dùng phương pháp truyền miệng;
• Bỏ tái khám khi thấy khỏe;
• Cho rằng sau mãn kinh không còn nguy cơ.
21. SAI LẦM TRONG THỰC HÀNH Y TẾ
• Dùng Pap smear như xét nghiệm chẩn đoán duy nhất ở người đang ra máu;
• Không theo dõi đến cùng người có kết quả tầm soát bất thường;
• Đốt cổ tử cung khi chưa loại trừ tổn thương xâm lấn;
• Cắt tử cung quá mức cho tổn thương tiền ung thư nhẹ;
• Phẫu thuật ung thư khi chưa đánh giá đầy đủ giai đoạn;
• Dùng một kiểu phẫu thuật cho mọi bướu giai đoạn sớm;
• Để người bệnh phải chịu cả phẫu thuật tận gốc lẫn hóa xạ trị vì lựa chọn ban đầu không hợp lý;
• Hóa xạ trị nhưng không bảo đảm xạ trị áp sát;
• Kéo dài tổng thời gian điều trị;
• Lạm dụng CT, PET/CT, dấu ấn ung thư trong theo dõi;
• Chỉ phát hiện bệnh mà không xây dựng hệ thống gọi lại, soi cổ tử cung, sinh thiết và điều trị.
Một chương trình tầm soát chỉ “làm xét nghiệm” mà không bảo đảm người có kết quả bất thường được điều trị đầy đủ không phải là chương trình tầm soát hoàn chỉnh. Nó chỉ tạo ra một danh sách phụ nữ có nguy cơ rồi… để họ tự xoay xở.
CHÚNG TA CẦN LÀM GÌ?
WHO đặt mục tiêu loại trừ ung thư cổ tử cung như một vấn đề y tế công cộng, nghĩa là đưa tỷ suất mắc xuống dưới 4 trường hợp trên 100.000 phụ nữ mỗi năm.
Để đi đúng hướng vào năm 2030, mỗi quốc gia cần đạt mục tiêu 90–70–90:
• 90% trẻ gái được tiêm vaccine HPV đầy đủ trước 15 tuổi;
• 70% phụ nữ được tầm soát bằng xét nghiệm hiệu năng cao trước 35 tuổi và lần nữa trước 45 tuổi;
• 90% người có tổn thương tiền ung thư được điều trị và 90% người mắc ung thư xâm lấn được quản lý thích hợp. Sáng kiến loại trừ ung thư cổ tử cung của WHO
Đối với Việt Nam, cần triển khai đồng thời:
1. Tiêm vaccine HPV diện rộng, ưu tiên trẻ gái trước tuổi quan hệ tình dục;
2. Xây dựng chương trình tầm soát dựa trên HPV thay vì các đợt khám rời rạc;
3. Tạo mã quản lý và hệ thống gọi lại người có kết quả bất thường;
4. Bảo đảm khả năng soi cổ tử cung, sinh thiết và điều trị tiền ung thư;
5. Chuẩn hóa giải phẫu bệnh và hình ảnh học;
6. Điều trị ung thư tại mạng lưới đa chuyên khoa có đủ phẫu thuật, hóa trị, xạ trị ngoài và xạ áp sát;
7. Giảm bất bình đẳng tiếp cận giữa thành thị–nông thôn và giữa các nhóm thu nhập;
8. Hoàn thiện hệ thống ghi nhận ung thư dân số để biết chính xác bệnh đang tăng hay giảm;
9. Đánh giá chương trình bằng tỷ lệ bao phủ, mất dấu, điều trị hoàn tất, giai đoạn chẩn đoán và tử vong—not phải chỉ đếm số xét nghiệm đã bán hoặc đã thực hiện.
THÔNG ĐIỆP HÀNH ĐỘNG
+ VỚI MỖI NGƯỜI DÂN
• Cho trẻ gái tiêm vaccine HPV đúng lịch;
• Người trưởng thành còn trong độ tuổi phù hợp nên hỏi bác sĩ về lợi ích tiêm bù;
• Tầm soát bằng phương pháp được khuyến cáo dù không có triệu chứng;
• HPV dương tính không phải ung thư, nhưng phải theo dõi đúng;
• Ra máu sau quan hệ, giữa kỳ kinh hoặc sau mãn kinh phải đi khám ngay;
• Khi đã có tổn thương tiền ung thư hoặc ung thư, cần điều trị tại nơi có đủ chuyên môn và theo dõi đến cùng.
+ VỚI NHÂN VIÊN Y TẾ
• Phân biệt phòng ngừa, tầm soát và chẩn đoán;
• Ưu tiên xét nghiệm HPV hiệu năng cao trong chương trình tầm soát;
• Quản lý theo nguy cơ thay vì xử trí mọi HPV dương tính giống nhau;
• Không điều trị khi chưa xác định đúng tổn thương;
• Chẩn đoán ung thư bằng mô bệnh học và phân giai đoạn đầy đủ;
• Chọn phẫu thuật hoặc hóa xạ trị ngay từ đầu để giảm điều trị chồng lấn;
• Bảo đảm xạ trị áp sát khi có chỉ định;
• Theo dõi để chăm sóc người bệnh, không phải để làm xét nghiệm tràn lan.
KẾT LUẬN
Ung thư cổ tử cung không phải là định mệnh và cũng không chỉ là trách nhiệm của từng phụ nữ. Đây là thước đo năng lực của cả hệ thống y tế.
• Vaccine làm giảm số người nhiễm HPV nguy cơ cao.
• Tầm soát và điều trị tiền ung thư làm giảm số ca ung thư mới.
• Chẩn đoán sớm và điều trị đủ chuẩn làm giảm tử vong.
• Theo dõi đúng và phục hồi toàn diện giúp giảm hậu quả lâu dài của bệnh và điều trị.
Nếu thực hiện đủ cả chuỗi, ung thư cổ tử cung có thể từ một nguyên nhân tử vong phổ biến trở thành một căn bệnh hiếm gặp. Công cụ đã có. Điều còn thiếu không phải thêm một “gói tầm soát” thương mại, mà là một hệ thống phòng ngừa–tầm soát–điều trị hoạt động đến nơi đến chốn.
BS CKII Nguyễn Hữu Hòa – Chuyên gia Ung bướu, Cố vấn Chuyên môn PK Pasteur






