Dinh Dưỡng Và Hoạt Động Thể Chất Cho Bệnh Nhân Ung Thư

17 Sep 2018

Nhiều bệnh nhân ung thư tìm thông tin về các loại thức ăn, về hoạt động thể chất, sử dụng thực phẩm bổ sung, liệu pháp dinh dưỡng để cải thiện đáp ứng điều trị tốt hơn, tốc độ hồi phục nhanh hơn, giảm nguy cơ tái phát, cải thiện chất lượng sống và kéo dài thời gian sống.

Nói chung, các bệnh nhân ung thư có 3 thời kỳ:

  1. Điều trị tích cực và hồi phục sau điều trị,
  2. Sống sau hồi phục, bao gồm không bệnh và bệnh ổn đinh,
  3. Bệnh tiến triển và cuối đời.

Mỗi thời kỳ có nhu cầu và đòi hỏi khác nhau về dinh dưỡng và hoạt động thể chất. Nhu cầu dinh dưỡng thay đổi theo quá trình diễn biến của bệnh nhân ung thư. Chọn lựa lối sống có tầm quan trọng đặc biệt giúp cho thành công trong điều trị toàn diện và tìm kiếm phương cách cho bệnh nhân tự chăm sóc để cải thiện kết quả về lâu dài.

Đối với bệnh nhân ung thư có sống còn lâu dài, kiểm soát cân nặng, chế độ ăn khỏe, lối sống có hoạt động thể chất nên được ưu tiên nhằm ngừa tái phát, ngừa ung thư thứ hai và các bệnh lý mạn tính khác. Đối với bệnh nhân ung thư giai đoạn tiến triển, hồi phục sức khỏe sau điều trị, điều chỉnh nhu cầu dinh dưỡng và mức độ hoạt động thể chất là thách thức đầy khó khăn.

Sau khi bệnh nhân được chẩn đoán ung thư, họ có nhiều câu hỏi đơn giản cần được trả lời rõ ràng như: tôi nên ăn thức ăn gì?, nên tập thể dục nhiều hơn không?, nên tăng hay giảm cân?, có nên sử dụng thực phẩm bổ sung không?. Bệnh nhân thu thập những lời khuyên từ nhiều nguồn khác nhau về thực phẩm mà họ nên ăn, nên tránh, họ nên tập thể dục như thế nào và loại thực phẩm bổ sung nào nên dùng. Lời khuyên này thường mâu thuẫn nhau và không có số liệu chứng minh.

che-do-dinh-duong-cho-ben-nhan-ung-thu

Dinh dưỡng và thể chất cho bệnh nhân ung thư

I/ THỜI KỲ ĐIỀU TRỊ TÍCH CỰC VÀ HỒI PHỤC SAU ĐIỀU TRỊ

  • Dinh dưỡng trong thời kỳ điều trị ung thư và hồi phục
  • Rèn luyện thể chất trong lúc điều trị ung thư
  • Thời kỳ hồi phục sau điều trị

Khi ở giai đoạn trễ, bệnh nhân thường đã bị sụt cân và suy kiệt. Ngoài ra, khi điều trị ung thư, nôn ói cũng gây sụt cân thêm. Do đặc điểm này, ung thư được xem như là bệnh đi kèm với sụt cân hơn là béo phì. Tuy nhiên, hiện nay nhiều bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn sớm và điều trị hiệu quả hơn. Do đó, có tăng số lượng bệnh nhân ung thư dư cân hoặc béo phì, tăng cân thêm là một biến chứng có thể có của điều trị.

Cân nặng thay đổi không những chịu ảnh hưởng nhiều vào loại ung thư và giai đoạn lúc chẩn đoán, mà còn do những thay đổi đáng kể về chuyển hóa và sinh lý, làm ảnh hưởng đến nhu cầu đối với các chất dinh dưỡng và vi chất.

Các triệu chứng như chán ăn, ăn mau no, những thay đổi mùi vị, rối loạn tiêu hóa do ung thư gây ra hoặc do tác dụng phụ của điều trị dẫn đến ăn uống không đủ và suy dinh dưỡng. Sụt cân đáng kể và dinh dưỡng kém có thể xảy ra sớm trong quá trình diễn tiến ở một số loại ung thư. Do đó, cung cấp đủ năng lượng để ngừa sụt cân thêm là hết sức cần thiết cho những bệnh nhân suy dinh dưỡng và cho những bệnh nhân mà điều trị gây ảnh hưởng lên đường tiêu hóa.

Các mô thức chính trong điều trị ung thư như phẫu thuật, xạ trị và hóa trị đều ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu dinh dưỡng, thay đổi thói quen ăn uống, gây cản trở tiêu hóa, hấp thu và sử dụng thực phẩm. Đánh giá dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư nên bắt đầu sớm ngay sau chẩn đoán và đánh giá cùng với các mục đích điều trị (chữa lành, kiểm soát hay giảm nhẹ), tập trung vào tình trạng dinh dưỡng hiện tại và các triệu chứng liên quan đến dinh dưỡng.

Trong lúc điều trị ung thư, mục đích chăm sóc dinh dưỡng nên ngừa hoặc giải quyết tình trạng suy dinh dưỡng, duy trì cân nặng thích hợp, bảo tồn khối lượng cơ thể không tính mỡ, giảm thiểu tác dụng phụ ảnh hưởng đến dinh dưỡng và tăng tối đa chất lượng sống. Các nghiên cứu xác định nếu có tư vấn dinh dưỡng trong điều trị ung thư sẽ cải thiện được kết quả điều trị cũng như tác dụng phụ ít hơn, cải thiện chất lượng sống và chế độ ăn. Nên tư vấn chuyên gia dinh dưỡng ung thư.

Đưa ra những lời khuyên dinh dưỡng theo từng cá nhân có thể cải thiện chế độ ăn uống và giảm đi một số độc tính do điều trị ung thư gây ra. Tùy theo tình trạng bệnh nhân mà có những lời khuyên dinh dưỡng theo từng cá nhân như sau:

  • Đối với những bệnh nhân chán ăn, ăn mau no, có nguy cơ sụt cân: ăn mỗi bữa lượng nhỏ, uống ít nước hay ít canh giúp tăng hấp thu thức ăn. Giữa các bữa ăn nên uống nhiều nước để bù lại tránh mất nước.
  • Đối với những bệnh nhân không đáp ứng yêu cầu dinh dưỡng qua thực phẩm hằng ngày, cần được tăng cường bằng thức uống hoặc thức ăn giàu dinh dưỡng chế biến sẵn trên thị trường hoặc tại nhà, có thể cải thiện nhu cầu cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng.
  • Đối với những bệnh nhân không đáp ứng các yêu cầu dinh dưỡng bằng các biện pháp trên và có nguy cơ suy dinh dưỡng, bệnh nhân cần các biện pháp hỗ trợ dinh dưỡng khác như thuốc kích thích thèm ăn, nuôi dưỡng qua đường tiêu hóa bằng ống thông hoặc nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch.

Sử dụng vitamin, chất khoáng và thực phẩm bổ sung trong điều trị ung thư vẫn còn tranh cãi. Chẳng hạn như, khi dùng thực phẩm bổ sung chứa folate hoặc thực phẩm tăng cường giàu folate có thể gây trở ngại cho bệnh nhân được hóa trị bằng kháng folate, như methotrexate. Nhiều thực phẩm bổ sung chứa các chất có nồng độ cao quá mức so với bình thường có trong thức ăn và quá mức nhu cầu được đề nghị.

Với những bằng chứng bất lợi ngay cả khi dùng thực phẩm bổ sung lượng vừa ở bệnh nhân ung thư, nên nhiều chuyên gia ung thư liên tục đưa ra lời khuyên chống lại việc sử dụng thực phẩm bổ sung trong và sau điều trị, và đề nghị hạn chế sử dụng trong những trường hợp suy yếu cơ thể hoặc tăng cường sức khỏe. Lo ngại này do, về mặt lý thuyết, một số nhóm thực phẩm bổ sung với những chất chống oxy hóa, ngăn cản tác dụng tổn thương tế bào ung thư do oxy hóa của xạ trị hay hóa trị. Ngược lại, một số bác sĩ lâm sàng nhận thấy khả năng gây hại do các chất chống oxy hóa chỉ là giả thuyết nhưng có lợi là giúp bảo vệ tế bào bình thường khỏi bị tổn thương thêm do điều trị ung thư.

Với bằng chứng thuyết phục chống lại việc sử dụng thực phẩm bổ sung có chọn lọc ở một số bệnh nhân ung thư, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và bệnh nhân có nhu cầu sử dụng hãy thận trọng. Nếu có ích lợi khi bổ sung, mỗi cá nhân đầu tiên nên đánh giá có thiếu dinh dưỡng không, tránh sử dụng quá mức 100% giá trị nhu cầu hằng ngày, và cân nhắc hạn chế sử dụng thực phẩm bổ sung trong điều trị hỗ trợ cho các bệnh lý mạn tính như loãng xương và một số bệnh lý khác.

Trong lúc điều trị ung thư, rèn luyện thể chất vẫn an toàn và dễ dàng giúp cải thiện chức năng các cơ quan trong cơ thể, giảm mệt mỏi và cải thiện chất lượng sống. Có một nghiên cứu cho thấy rèn luyện thể chất không ngăn cản đáp ứng hóa trị.

Quyết định khi nào bắt đầu và duy trì như thế nào tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe và ưa thích của từng cá nhân. Rèn luyện thể chất trong lúc điều trị ung thư cải thiện nhiều tác dụng phụ sau điều trị lên xương và sức cơ.

ren-luyen-the-luc-cho-benh-nhan-ung-thu

Những bệnh nhân hóa trị và hoặc xạ trị đã có chương trình luyện tập rồi thì cần luyện tập ở cường độ thấp và ngắn trong lúc điều trị, mục đích chính là duy trì hoạt động thể chất càng nhiều càng tốt. Một số bác sĩ lâm sàng khuyên, đợi hết thời gian kéo dài tác dụng phụ hóa trị hãy bắt đầu luyện tập.

Đối với những bệnh nhân ít đi lại trước khi bị ung thư, hoạt động cường độ thấp như co duỗi tại chỗ, đi bộ chậm và chậm nhanh dần.

Đối với bệnh nhân di căn xương hoặc loãng xương, hay bị suy yếu như viêm khớp hoặc bệnh thần kinh ngoại biên, nên thận trọng giữ thăng bằng và an toàn, tránh té ngã và chấn thương. Cần các chuyên gia hỗ trợ trong các buổi tập.

Nếu bệnh hoặc điều trị cần thời gian nghĩ ngơi tại giường, thì suy yếu, giảm sức cơ và teo cơ có thể xãy ra. Vật lý trị liệu giúp duy trì sức cơ, ngừa giới hạn cử động, xóa tan mệt mỏi và trầm cảm.

Sau khi kết thúc điều trị ung thư, tiếp theo là thời kỳ hồi phục. Trong thời kỳ này, các triệu chứng và các tác dụng phụ ảnh hưởng đến dinh dưỡng và hoạt động thể chất bắt đầu được giải quyết. Đa số các tác bệnh nhân bị tác dụng phụ cấp tính sẽ hồi phục trong vài tuần hoặc vài tháng sau kết thúc điều trị, một số trường hợp kéo dài lâu hơn.

Ngoài ra, các tác dụng phụ muộn hoặc tiềm ẩn có thể xuất hiện sau nhiều tháng hoặc nhiều năm sau điều trị. Các dụng phụ kéo dài hoặc biến chứng do điều trị liên quan đến tình trạng dinh dưỡng là mệt mỏi, bệnh thần kinh ngoại biên, thay đổi vị giác, khó nhai, khó nuốt hoặc khó hồi phục cân nặng cơ thể, thay đổi thói quen ruột như tiêu chảy hoặc táo bón.

Bệnh nhân cần được tiếp tục đánh giá và hướng dẫn về dinh dưỡng trong thời kỳ này. Đối với những bệnh nhân xuất hiện sụt cân do điều trị hoặc có những trở ngại về tình trạng dinh dưỡng thì tiếp tục chăm sóc nâng đỡ, điều trị giảm triệu chứng và kích thích thèm ăn, giúp cho quá trình hồi phục. Sau điều trị, chương trình rèn luyện thể chất đều đặn là cần thiết để hỗ trợ cho quá trình hồi phục và cải thiện thể lực.

Các bạn có thể đọc thêm 1 số bài viết liên quan

II/ THỜI KỲ KHÔNG BỆNH HOẶC CÓ BỆNH ỔN ĐỊNH

Trong thời kỳ này, tổ chức và đạt được các mục đích lâu dài như kiểm soát cân nặng, lối sống có rèn luyện thể chất chủ động, chế độ ăn khỏe là quan trọng để tăng cường sức khỏe, chất lượng sống và tuổi thọ. Các bệnh nhân ung thư cần học hỏi về chế độ ăn tối ưu và thực hành rèn luyện thể chất. Các bằng chứng hiện nay hỗ trợ các đề nghị cho 3 lãnh vực như kiểm soát cân nặng, rèn luyện thể chất và các kiểu chế độ ăn. Các hướng dẫn này có trong bảng dưới đây:

Duy trì cân nặng

  • Nếu dư cân và béo phì, hạn chế sử dụng thức ăn và nước uống có năng lượng cao và tăng hoạt động thể chất để giảm cân.
  • Tránh bất động và trở lại hoạt đồng hằng ngày càng sớn càng tốt sau chẩn đoán ung thư
  • Tập thể dục ít nhất 150 phút mỗi tuần
  • Tập thể thao ít nhất 2 ngày mỗi tuần

Cam kết hoạt động thể chất đều đặn

Chế độ ăn nhiều rau, trái cây và ngũ cốc

  • Theo hội ung thư Mỹ về dinh dưỡng và rèn luyện thể chất trong phòng ngừa ung thư

che-do-an-uong-trong-dieu-tri-ung-thu

Do bệnh nhân ung thư cũng có nguy cơ cao bị ung thư thứ 2 và các bệnh mạn tính như tim mạch, tiểu đường và loãng xương nên các hướng dẫn cũng nhằm phòng ngừa các bệnh này. Do các thành viên trong gia đình bệnh nhân ung thư cũng có nguy cơ cao bị ung thư, họ cũng được khuyến cáo theo hướng dẫn về dinh dưỡng và hoạt động thể chất để phòng ngừa ung thư.

Các số liệu thuyết phục cho thấy béo phì liên qua với nguy cơ cao tái phát ung thư vú. Ngược với phần lớn các ung thư khác, ung thư đường hô hấp- tiêu hóa như đầu cổ, thực quản, phổi có thể bị suy dinh dưỡng và sụt cân lúc chẩn đoán và do đó có ích với việc làm tăng cân nặng. Do đó, đạt được và duy trì cân nặng cũng như áp dụng chế độ ăn giàu dinh dưỡng và duy trì hoạt động thể chất là quan trọng để cải thiện sức khỏe lâu dài.

Các nghiên cứu cho thấy ích lợi của hoạt động thể chất trong thời kỳ hồi phục sau điều trị, giảm tái phát và sống còn kéo dài. Rèn luyện thể chất giúp cải thiện tim mạch, sức cơ, thể hình, mệt mỏi, lo lắng, trầm cảm, tự trọng, hạnh phúc và nhiều vấn đề chất lượng sống (thể chất, chất năng và cảm cảm xúc). Rèn luyện thể chất cho thấy cải thiện một số biến chứng do điều trị như phù tay trong ung thư vú.

III/ THỜI KỲ BỆNH NHÂN CÒN BỆNH TIẾN TRIỂN

Đối với bệnh nhân còn bệnh tiến triển, chế độ ăn khỏe và một số hoạt động thể chất là những yếu tố quan trọng để thiết lập và duy trì cảm giác thoải mái và tăng chất lượng sống của họ. Bệnh tiến triển thường đi kèm với sụt cân và suy dinh dưỡng. Nhiều bệnh nhân cần điều chỉnh việc chọn lựa thức ăn, cách ăn uống để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và quản lý các triệu chứng bệnh hay tác dụng phụ như mệt mỏi, thay đổi thói quen ruột, giảm cảm giác vị giác hoặc giảm thèm ăn. Đối với những bệnh nhân chán ăn, khó đạt được cân nặng mong muốn, bằng chứng thuyết phục cho thấy một số thuốc như megestrol acetate giúp tăng cảm giác thèm ăn.

Đối với những bệnh nhân ăn uống không đủ duy trì năng lượng, cần bổ sung thêm các thức uống hoặc thức ăn đậm đặc giàu dinh dưỡng. Hỗ trợ dinh dưỡng qua đường tiêu hóa hoặc ngoài đường tiêu hóa tùy theo mục đích điều trị là kiểm soát hay giảm nhẹ và liên quan đến biến chứng nội khoa. Hội dinh dưỡng và Viện dinh dưỡng Mỹ đề nghị hỗ trợ dinh dưỡng có chọn lọc và có mục đích rõ ràng.

Một số nghiên cứu cho thấy, với mức độ nào đó, rèn luyện thể chất có thể dễ dàng cải thiện chất lượng sống và thế chất cho những bệnh nhân còn bệnh tiến triển đối với một số loại ung thư. Các bằng chứng rèn luyện thể chất không đủ đưa ra các đề nghị chung nên đề nghị bệnh nhân hoạt động thể chất và dinh dưỡng theo nhu cầu và khả năng của mỗi người.

....

Mọi thông tin chi tiết thắc mắc hay cần tư vấn hỗ trợ bạn đọc có thể liên hệ trực tiếp đến địa chỉ chuyên khoa khám ung bướu của Pasteur Đà Nẵng để được các bác sĩ chuyên sâu thăm khám và đưa ra những lời khuyên tốt nhất!

BS CKII Nguyễn Hữu Hòa

Phòng khám đa khoa Pasteur Đà Nẵng

Bài viết liên quan

Ung thư đại trực tràng là gì? Các dấu hiệu phát hiện sớm

27 Jul 2018

Ung thư đại trực tràng là gì? các dấu hiệu phát hiện sớm cũng như những thắc mắc của bạn đọc sẽ được BS CKII Nguyễn Hữu Hòa ...

Xem thêm

Nguyên Nhân Gây Nên Thất Bại Trong Điều Trị Ung Thư

25 Aug 2018

Ở bài viết này phòng khám đa khoa Pasteur sẽ chỉ ra cho các bạn đọc thấy Các nguyên nhân gây nên thất bại trong điều ...

Xem thêm

Ảnh Hưởng Của Liệu Pháp Hóa Chất (Hóa Trị) Lên Cơ Thể

27 Aug 2018

Sau khi nhận được chẩn đoán ung thư, phản ứng đầu tiên của bạn là hỏi bác sĩ về tham gia điều trị hóa chất. Sau tất cả, hóa ...

Xem thêm

10 Triệu Chứng Để Phát Hiện Ung Thư Sớm Ở Nam

27 Aug 2018

Ung thư là một trong những nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất ở nam giới trưởng thành kể cả ở các nước tiên tiến như Mỹ, ...

Xem thêm