Bệnh Kawasaki disease là một bệnh viêm mạch cấp tính, thường gặp ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, gây viêm các mạch máu nhỏ và trung bình trong cơ thể, đặc biệt là động mạch vành – mạch máu nuôi tim.
Bệnh chưa rõ nguyên nhân và không có xét nghiệm đặc hiệu, vì vậy chẩn đoán chủ yếu dựa vào biểu hiện lâm sàng và loại trừ các bệnh khác. Trẻ thường sốt cao kéo dài trên 5 ngày kèm theo các dấu hiệu như mắt đỏ không ghèn, môi đỏ nứt, lưỡi đỏ như dâu tây, phát ban da, sưng đỏ bàn tay bàn chân (sau đó có thể bong da) và nổi hạch cổ. Một số trường hợp không điển hình có thể thiếu vài dấu hiệu nên cần kết hợp xét nghiệm và siêu âm tim để hỗ trợ chẩn đoán.
Điều trị cần được thực hiện càng sớm càng tốt, đặc biệt trong 10 ngày đầu của bệnh để giảm nguy cơ biến chứng tim mạch. Hai thuốc chính được sử dụng là aspirin và globulin miễn dịch truyền tĩnh mạch (IVIG). IVIG là nền tảng điều trị, giúp giảm viêm và làm giảm rõ rệt nguy cơ phình động mạch vành. Aspirin được dùng liều cao trong giai đoạn còn sốt (khoảng 80 mg/kg/ngày, chia nhiều lần) nhằm chống viêm, sau đó giảm xuống liều thấp (3–5 mg/kg/ngày) để chống kết tập tiểu cầu và bảo vệ mạch vành. Aspirin thường được duy trì ít nhất 4–6 tuần và không nên tự ý ngưng thuốc nếu chưa có chỉ định của bác sĩ.
Biến chứng quan trọng và đáng lo ngại nhất của bệnh là tổn thương động mạch vành, bao gồm giãn mạch, phình mạch và hình thành huyết khối trong lòng mạch, có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim, rối loạn nhịp hoặc thậm chí đột tử. Nguy cơ này thay đổi theo từng giai đoạn bệnh: giai đoạn cấp (0–2 tuần) bắt đầu xuất hiện tổn thương mạch vành; giai đoạn bán cấp (2–6 tuần) là nguy hiểm nhất khi phình mạch tiến triển mạnh và nguy cơ huyết khối cao; giai đoạn hồi phục (sau 6 tuần) nếu không có tổn thương sớm thì khả năng xuất hiện mới rất thấp, nhưng các phình lớn có thể tồn tại lâu dài và gây biến chứng về sau.
Việc theo dõi tim mạch, đặc biệt là siêu âm tim, đóng vai trò rất quan trọng. Trẻ cần được siêu âm tim trong 1–2 tuần đầu để đánh giá động mạch vành. Nếu kết quả bình thường, có thể không cần kiểm tra lại nhiều lần. Nếu có bất thường, cần tái khám và siêu âm lại vào tuần 6–8 và có thể tiếp tục theo dõi ở mốc 6–12 tháng tùy mức độ tổn thương. Những trường hợp có phình lớn có thể cần làm thêm các thăm dò chuyên sâu như nghiệm pháp gắng sức hoặc thông tim. Về lâu dài, nếu động mạch vành trở về bình thường thì nguy cơ biến chứng rất thấp; ngược lại, nếu còn phình lớn, trẻ cần được theo dõi tim mạch suốt đời để phòng ngừa hẹp mạch, huyết khối và thiếu máu cơ tim.
Trong quá trình theo dõi, phụ huynh cần đưa trẻ đi khám ngay nếu xuất hiện lại các dấu hiệu nghi ngờ tái phát như sốt, phát ban, môi đỏ, lưỡi dâu, sưng tay chân hoặc nổi hạch cổ. Ngoài ra, theo khuyến cáo, trẻ đã điều trị Kawasaki bằng IVIG nên trì hoãn tiêm các vaccine sống như sởi–quai bị–rubella hoặc thủy đậu ít nhất 11 tháng vì thuốc có thể làm giảm hiệu quả đáp ứng miễn dịch.

Hình ảnh siêu âm tim của em bé 14 tháng tái khám theo hẹn sau mắc Kawasaki
Hiện bé tổng trạng ổn định, động mạch vành không giãn.
BS Lê Thanh Thùy – Phòng khám đa khoa Pasteur






