Béo phì không chỉ ảnh hưởng ngoại hình mà còn gây nhiều bệnh lý nguy hiểm. Cùng Phòng khám đa khoa Pasteur tìm hiểu hướng dẫn dinh dưỡng, vận động và điều trị hiệu quả tình trạng béo phì.
Béo phì có thể được định nghĩa là tình trạng dư thừa mỡ trong cơ thể. Dấu hiệu thay thế cho hàm lượng mỡ trong cơ thể là chỉ số khối cơ thể (BMI), được tính như sau:
•BMI = Khối lượng cơ thể (kg)/ Bình phương chiều cao (m)
Về mặt lâm sàng, người có chỉ số BMI từ 25 đến 29,9 kg/m2 được gọi là thừa cân, người có chỉ số BMI lớn hơn 30 kg/m2 được gọi là béo phì. Giá trị này ở người châu Á hay Việt Nam có thấp hơn.
BMI không phải là ước tính trực tiếp về lượng mỡ và không tính đến thực tế là một số cá nhân có chỉ số BMI cao do có khối lượng cơ lớn.
Một cách tốt hơn để xác định béo phì là đo tỷ lệ phần trăm tổng lượng mỡ trong cơ thể. Béo phì thường được định nghĩa là tổng lượng mỡ trong cơ thể từ 25% trở lên ở nam giới và tổng lượng mỡ trong cơ thể từ 35% trở lên ở phụ nữ. Mặc dù phần trăm mỡ cơ thể có thể được ước tính bằng nhiều phương pháp khác nhau, chẳng hạn như đo độ dày nếp gấp da, trở kháng điện sinh học hoặc cân dưới nước, những phương pháp này hiếm khi được sử dụng trong thực hành lâm sàng, trong đó BMI thường được sử dụng để đánh giá béo phì.
Tác động của béo phì đến nguy cơ mắc các rối loạn khác nhau như xơ gan, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, đột quỵ và bệnh thận dường như có liên quan chặt chẽ hơn với việc tăng mỡ nội tạng (bụng) hơn là tăng tích trữ mỡ dưới da hoặc tích trữ mỡ ở phần dưới của cơ thể như hông. Vì vậy, nhiều bác sĩ lâm sàng đo chu vi vòng eo như một dấu hiệu của tình trạng béo bụng. Tại Hoa Kỳ, chu vi vòng eo lớn hơn 102 cm ở nam và 88 cm ở nữ hoặc tỷ lệ vòng eo/hông lớn hơn 0,9 ở nam và 0,85 ở nữ thường được coi là dấu hiệu béo bụng ở người lớn. Ở Việt Nam, chưa rõ số liệu này.
Tỷ lệ béo phì ở trẻ em và người lớn ở Hoa Kỳ và ở nhiều nước công nghiệp phát triển khác đang gia tăng nhanh chóng, tăng hơn 30% trong thập kỷ qua. Khoảng 65% người trưởng thành ở Hoa Kỳ bị thừa cân và gần 33% trong số đó bị béo phì.

2. BÉO PHÌ LÀ DO NĂNG LƯỢNG NẠP VÀO NHIỀU HƠN NĂNG LƯỢNG TIÊU HAO (BỆNH SINH)
Khi lượng năng lượng (dưới dạng thức ăn) vào cơ thể lớn hơn mức tiêu hao, trọng lượng cơ thể sẽ tăng lên và phần lớn năng lượng dư thừa sẽ được tích trữ dưới dạng mỡ. Vì vậy, tình trạng béo phì quá mức (béo phì) là do năng lượng nạp vào vượt quá năng lượng đầu ra. Đối với mỗi 9,3 calo năng lượng dư thừa vào cơ thể, có khoảng 1 gam chất béo được lưu trữ.
Chất béo được lưu trữ chủ yếu ở các tế bào mỡ ở mô dưới da và trong khoang phúc mạc (khoang bụng), mặc dù gan và các mô khác của cơ thể thường tích tụ một lượng lipid đáng kể ở người béo phì.
Trước đây người ta tin rằng số lượng tế bào mỡ chỉ có thể tăng đáng kể trong thời thơ ấu và trẻ em và nạp vào năng lượng quá mức ở trẻ em sẽ dẫn đến béo phì tăng sản, liên quan đến số lượng tế bào mỡ tăng lên và chỉ tăng nhỏ kích thước tế bào mỡ. Ngược lại, phát triển bệnh béo phì ở người trưởng thành được cho là chỉ làm tăng kích thước tế bào mỡ, dẫn đến béo phì phì đại. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các tế bào mỡ mới có thể biệt hóa với các tế bào mỡ giống như nguyên bào sợi ở bất kỳ giai đoạn nào của cuộc đời và sự phát triển của bệnh béo phì ở người trưởng thành đi kèm với số lượng cũng như kích thước của các tế bào mỡ tăng lên. Một người cực kỳ béo phì có thể có số lượng tế bào mỡ gấp bốn lần, mỗi tế bào chứa lượng lipid gấp đôi so với một người gầy.
Khi một người đã béo phì và đạt được cân nặng ổn định, năng lượng nạp vào một lần nữa bằng năng lượng đầu ra. Để một người giảm cân, năng lượng nạp vào phải nhỏ hơn năng lượng tiêu hao.
3. GIẢM HOẠT ĐỘNG THỂ CHẤT VÀ BẤT THƯỜNG ĐIỀU CHỈNH ĂN UỐNG LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA BÉO PHÌ (Bệnh nguyên)
Nguyên nhân gây béo phì rất phức tạp. Mặc dù gen đóng vai trò quan trọng trong việc lập trình các cơ chế sinh lý mạnh mẽ điều chỉnh lượng thức ăn ăn vào và chuyển hóa năng lượng, nhưng các yếu tố lối sống và môi trường có thể đóng vai trò chủ đạo ở nhiều người béo phì. Sự gia tăng nhanh chóng tỷ lệ béo phì trong 20 đến 30 năm qua nhấn mạnh vai trò quan trọng của lối sống và các yếu tố môi trường vì những thay đổi di truyền không thể xảy ra nhanh như vậy. Tuy nhiên, các yếu tố di truyền có thể khiến nhiều người dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường đang khiến tỷ lệ béo phì ngày càng tăng ở hầu hết các nước công nghiệp hóa và đang phát triển.
a. Lối sống ít vận động là nguyên nhân chính gây béo phì.
Hoạt động thể chất thường xuyên và rèn luyện thể chất được biết là làm tăng khối lượng cơ bắp và giảm khối lượng mỡ trong cơ thể, trong khi hoạt động thể chất không đầy đủ thường liên quan đến việc giảm khối lượng cơ bắp và tăng mỡ. Ví dụ, các nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa các hành vi ít vận động, chẳng hạn như thời gian sử dụng thiết bị quá nhiều (ví dụ: xem tivi) và béo phì.
Khoảng 25 đến 30 phần trăm năng lượng mà người bình thường sử dụng mỗi ngày được dùng cho hoạt động cơ bắp, và ở người lao động, khoảng 60 đến 70 phần trăm được sử dụng theo cách này. Ở những người béo phì, hoạt động thể chất tăng lên thường làm tăng tiêu hao năng lượng nhiều hơn lượng thức ăn đưa vào, dẫn đến giảm cân đáng kể. Ngay cả một đợt tập luyện vất vả cũng có thể làm tăng mức tiêu hao năng lượng cơ bản trong vài giờ sau khi ngừng hoạt động thể chất. Bởi vì hoạt động cơ bắp cho đến nay là phương tiện quan trọng nhất để tiêu hao năng lượng trong cơ thể, nên tăng cường hoạt động thể chất thường là phương tiện hiệu quả để giảm lượng mỡ dự trữ.
b. Thói quen ăn uống bất thường là nguyên nhân quan trọng gây béo phì.
Mặc dù các cơ chế sinh lý mạnh mẽ điều chỉnh lượng thức ăn ăn vào, nhưng các yếu tố tâm lý và môi trường quan trọng cũng có thể gây ra hành vi ăn uống bất thường, hấp thụ quá nhiều năng lượng và béo phì.
Tầm quan trọng của các yếu tố môi trường được thể hiện rõ qua sự gia tăng nhanh chóng tỷ lệ béo phì ở hầu hết các nước công nghiệp hóa, điều này trùng hợp với sự dư thừa của các loại thực phẩm giàu năng lượng (đặc biệt là thực phẩm béo) và lối sống ít vận động. Yếu tố tâm lý có thể góp phần gây béo phì ở một số người. Ví dụ, mọi người thường tăng cân rất nhiều trong hoặc sau những tình huống căng thẳng, chẳng hạn như cha mẹ qua đời, bệnh nặng hoặc thậm chí là trầm cảm về tinh thần. Có vẻ như ăn uống có thể là một phương tiện để giảm bớt căng thẳng.
c. Dinh dưỡng quá mức ở trẻ em là nguyên nhân có thể gây béo phì.
Một yếu tố có thể góp phần gây ra béo phì là quan điểm phổ biến cho rằng thói quen ăn uống lành mạnh cần ba bữa một ngày và mỗi bữa phải đủ no. Nhiều trẻ nhỏ bị cha mẹ quá quan tâm ép buộc phải có thói quen này và trẻ tiếp tục thực hành thói quen này suốt cuộc đời.
Tốc độ hình thành tế bào mỡ mới đặc biệt nhanh trong những năm đầu đời, tốc độ tích trữ mỡ càng lớn thì số lượng tế bào mỡ càng nhiều. Số lượng tế bào mỡ ở trẻ béo phì thường cao gấp ba lần so với trẻ bình thường. Do đó, người ta cho rằng tình trạng dinh dưỡng quá mức ở trẻ em – đặc biệt là ở giai đoạn nhũ nhi và ở mức độ thấp hơn là trong những năm cuối đời – có thể dẫn đến béo phì suốt đời.

4. CÁC BẤT THƯỜNG VỀ THẦN KINH LÀ NGUYÊN NHÂN GÂY BÉO PHÌ.
Trước đây chúng tôi đã chỉ ra rằng các tổn thương ở nhân bụng trong của vùng dưới đồi khiến động vật ăn quá nhiều và trở nên béo phì. Béo phì tiến triển thường phát triển ở những người có khối u vùng dưới đồi xâm lấn vùng dưới đồi, chứng tỏ rằng béo phì ở người cũng có thể do tổn thương vùng dưới đồi. Mặc dù tổn thương vùng dưới đồi hầu như không bao giờ được tìm thấy ở những người béo phì, nhưng có thể tổ chức chức năng của vùng dưới đồi hoặc các trung tâm nuôi dưỡng thần kinh khác ở những người béo phì khác với ở những người không béo phì. Ngoài ra, những bất thường về chất dẫn truyền thần kinh hoặc cơ chế thụ thể có thể hiện diện trong các đường thần kinh của vùng dưới đồi kiểm soát việc ăn uống. Để ủng hộ lý thuyết này, một người béo phì đã giảm cân xuống mức bình thường bằng các biện pháp ăn kiêng nghiêm ngặt thường phát triển cơn đói dữ dội hơn nhiều so với người bình thường. Hiện tượng này cho thấy “điểm cài đặt” trong hệ thống kiểm soát ăn uống của người béo phì ở mức dự trữ chất dinh dưỡng cao hơn nhiều so với người không béo phì.
Các nghiên cứu trên động vật thí nghiệm cũng chỉ ra rằng khi lượng thức ăn bị hạn chế ở động vật béo phì, những thay đổi rõ rệt về chất dẫn truyền thần kinh xảy ra ở vùng dưới đồi làm tăng đáng kể cảm giác đói và phản đối việc giảm cân. Một số thay đổi này bao gồm sự gia tăng hình thành các chất dẫn truyền thần kinh gây chán ăn như NPY và giảm sự hình thành các chất gây chán ăn như leptin và α-MSH. Các nghiên cứu ở người đã xác nhận rằng việc giảm cân nhờ chế độ ăn kiêng đi kèm với việc tăng mức độ hormone kích thích cơn đói (ví dụ: ghrelin) và giảm mức độ hormone (ví dụ: leptin) làm giảm cơn đói. Những thay đổi nội tiết tố này tồn tại ít nhất 1 năm sau khi giảm cân, có lẽ giải thích một phần lý do tại sao hầu hết mọi người lại khó đạt được mức giảm cân bền vững chỉ bằng cách ăn kiêng.
5. YẾU TỐ DI TRUYỀN LÀ NGUYÊN NHÂN GÂY BÉO PHÌ.
Béo phì chắc chắn có tính chất di truyền trong gia đình. Tuy nhiên, rất khó để xác định vai trò chính xác của di truyền trong việc góp phần gây béo phì vì các thành viên trong gia đình thường có nhiều thói quen ăn uống và hoạt động thể chất giống nhau. Bằng chứng hiện tại cho thấy rằng 20 đến 25 phần trăm các trường hợp béo phì có thể do yếu tố di truyền gây ra.
Các gen có thể góp phần gây ra bệnh béo phì bằng cách gây ra những bất thường ở (1) một hoặc nhiều con đường điều chỉnh các trung tâm dinh dưỡng và (2) tiêu hao năng lượng và tích trữ chất béo. Ba trong số các nguyên nhân gây béo phì đơn gen (gen đơn) là (1) đột biến MCR-4, dạng béo phì đơn gen phổ biến nhất được phát hiện cho đến nay; (2) thiếu hụt leptin bẩm sinh do đột biến gen leptin, rất hiếm gặp; và (3) đột biến ở thụ thể leptin, cũng rất hiếm. Tất cả các dạng béo phì đơn sinh này chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong béo phì. Có khả năng là nhiều biến thể gen tương tác với các yếu tố môi trường để ảnh hưởng đến số lượng và sự phân bổ mỡ trong cơ thể.
6. ĐIỀU TRỊ BÉO PHÌ
a. Giảm năng lượng đầu vào dưới mức năng lượng tiêu hao
Điều trị béo phì phụ thuộc vào việc giảm năng lượng đầu vào dưới mức năng lượng tiêu hao và tạo ra sự cân bằng năng lượng âm bền vững cho đến khi đạt được mức giảm cân mong muốn – nói cách khác, là giảm năng lượng nạp vào hoặc tăng năng lượng tiêu hao. Hướng dẫn hiện tại của Viện Y tế Quốc gia (NIH) khuyến nghị giảm lượng calo tiêu thụ 500 kilocalories mỗi ngày đối với những người thừa cân và béo phì vừa phải (BMI >25 nhưng <35 kg/m2) để giảm cân khoảng 0,450kg (gần nửa kg) mỗi tuần.
Mức giảm năng lượng mạnh hơn từ 500 đến 1000 kilocalories mỗi ngày được khuyến nghị cho những người có chỉ số BMI lớn hơn 35 kg/m2. Thông thường, mức giảm năng lượng như vậy, nếu có thể đạt được và duy trì, sẽ giúp giảm cân khoảng 0,45 kg đến 0,9 kg mỗi tuần, hoặc giảm cân khoảng 10% sau 6 tháng. Đối với hầu hết những người đang cố gắng giảm cân, tăng cường hoạt động thể chất cũng là một yếu tố quan trọng để giảm cân thành công lâu dài.
b. Ăn lượng lớn thức ăn không dinh dưỡng
Để giảm lượng năng lượng nạp vào, hầu hết các chế độ ăn giảm đều được thiết kế để chứa một lượng lớn “khối lượng lớn”, thường được tạo thành từ các chất xenlulose không dinh dưỡng. Khối lượng này làm căng dạ dày và do đó xoa dịu cơn đói một phần.
Trong các nghiên cứu trên động vật, quy trình như vậy chỉ đơn giản là làm cho động vật tăng lượng thức ăn nhiều hơn, nhưng con người thường có thể tự lừa dối mình vì lượng thức ăn của họ đôi khi bị kiểm soát bởi thói quen khi đói. Như đã chỉ ra ở phần sau liên quan đến tình trạng đói, điều quan trọng là phải ngăn ngừa tình trạng thiếu vitamin trong thời gian ăn kiêng.
c. Thuốc
Nhiều loại thuốc khác nhau để giảm mức độ đói đã được sử dụng trong điều trị béo phì. Các loại thuốc được sử dụng rộng rãi nhất là amphetamine (hoặc dẫn xuất amphetamine), có tác dụng ức chế trực tiếp các trung tâm nuôi dưỡng trong não. Một loại thuốc điều trị béo phì kết hợp phentermine, một chất kích thích giao cảm làm giảm lượng thức ăn ăn vào và tăng tiêu hao năng lượng, với topiramate, được sử dụng làm thuốc chống co giật. Điều nguy hiểm khi sử dụng thuốc giống giao cảm là chúng đồng thời kích thích quá mức hệ thần kinh giao cảm và làm tăng huyết áp. Thuốc cường giao cảm được sử dụng phổ biến sibutramine, đã bị loại khỏi thị trường Hoa Kỳ vào năm 2010 để điều trị béo phì vì các nghiên cứu lâm sàng chứng minh rằng nó làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Một loại thuốc khác được phê duyệt để điều trị béo phì là lorcaserin, chất kích hoạt thụ thể serotonin trong não và thúc đẩy tăng biểu hiện POMC.
Tuy nhiên, mức giảm cân thường không lớn hơn 5 đến 10%. Một nhóm thuốc khác hoạt động bằng cách thay đổi sự hấp thụ lipid ở ruột. Ví dụ, orlistat, một chất ức chế lipase, làm giảm quá trình tiêu hóa chất béo ở ruột, khiến một phần chất béo ăn vào bị mất qua phân và do đó làm giảm sự hấp thụ năng lượng. Tuy nhiên, mất chất béo qua phân có thể gây ra tác dụng phụ khó chịu ở đường tiêu hóa, cũng như mất vitamin tan trong chất béo trong phân.
d. Tăng cường hoạt động thể chất
Nhiều người béo phì có thể giảm cân đáng kể khi tăng cường hoạt động thể chất. Càng tập thể dục nhiều, năng lượng tiêu hao hàng ngày càng lớn và tình trạng béo phì càng biến mất nhanh chóng. Vì vậy, tập thể dục cưỡng bức thường là một phần thiết yếu của điều trị. Các hướng dẫn điều trị béo phì hiện nay khuyến nghị thay đổi lối sống bao gồm tăng cường hoạt động thể chất kết hợp với giảm lượng calo nạp vào.
Đối với những bệnh nhân béo phì do bệnh có chỉ số BMI lớn hơn 40 hoặc đối với những bệnh nhân có chỉ số BMI lớn hơn 35 và các tình trạng như tăng huyết áp hoặc tiểu đường loại II khiến họ mắc các bệnh nghiêm trọng khác, có thể sử dụng nhiều phương pháp phẫu thuật khác nhau để giảm khối lượng mỡ trong cơ thể hoặc để giảm lượng thức ăn có thể ăn trong mỗi bữa ăn.
e. Phẫu thuật cắt dạ dày bao gồm việc tạo một túi nhỏ ở phần gần của dạ dày, sau đó nối với hỗng tràng bằng một đoạn ruột non có chiều dài khác nhau; túi được tách ra khỏi phần còn lại của dạ dày bằng ghim. Phẫu thuật thắt đai dạ dày bao gồm việc đặt một đai có thể điều chỉnh quanh dạ dày gần đầu trên của nó; Quy trình này cũng tạo ra một túi dạ dày nhỏ hạn chế lượng thức ăn có thể ăn trong mỗi bữa ăn. Thủ thuật thứ ba hiện đang được sử dụng rộng rãi hơn là cắt dạ dày theo chiều dọc, loại bỏ một phần lớn dạ dày và phần còn lại được ghim lại với nhau. Những thủ tục phẫu thuật này thường giúp giảm cân đáng kể ở những bệnh nhân béo phì. Phẫu thuật cắt dạ dày và cắt ống dọc thường dẫn đến sự thuyên giảm nhanh chóng của bệnh đái tháo đường týp II, một biến chứng quan trọng của bệnh béo phì, ngay cả trước khi giảm cân đáng kể. Tuy nhiên, các thủ tục này là những hoạt động lớn và ảnh hưởng lâu dài của chúng đối với sức khỏe tổng thể và tỷ lệ tử vong vẫn chưa chắc chắn.
Lưy ý: Các biện pháp điều trị béo phì cần có chỉ định và hướng dẫn cụ thể của bác sĩ, không tự ý điều trị.






